[Đăng ngày: 12/09/2018]
Theo BS Vũ Quốc Đạt, bộ môn Truyền nhiễm Trường đại học Y Hà Nội, bệnh do nấm Penicillium marneffei là một trong những bệnh thường gặp ở người nhiễm HIV.

Chúng ta biết rằng, nấm Penicillium có nhiều loại khác nhau nhưng hầu như chỉ có loại Penicillium marneffei gây bệnh.Bệnh do nhiễm nấm Penicillium marneffei xuất hiện chủ yếu ở Đông Nam Á, một số trường hợp khác phát hiện ở miền Nam châu Á như Trung Quốc, Hồng Kông, Lào, Indonesia. Gần đây bệnh còn được phát hiện ở một số nước châu Âu như Thụy Sĩ, Italia, Pháp, Hà Lan, Anh. Thụy Điển... Tại Việt Nam đã phát hiện một số bệnh nhân HIV bị nhiễm nấm Penicillium marneffei và Bệnh viện 103 cũng đã có thông báo một số trường hợp nhiễm nấm Penicillium marneffei trên bệnh nhân HIV.

Nấm Penicillium thuộc lớp Ascomycetes gồm rất nhiều loài, chúng phân bố rộng rãi trong tự nhiên; đây là một trong những loại nấm tạp nhiễm hay gặp nhất trong phòng thí nghiệm. Chỉ có loại nấm Penicillium marneffei là tác nhân gây bệnh trực tiếp ở người và các loại động vật.

Nấm Penicillium marneffei là loại nấm lưỡng dạng, mặc dù các nhà khoa học đã có những nghiên cứu nhưng vẫn có nhiều điều chưa biết rõ về đặc điểm sinh thái, dịch tễ học và khả năng gây bệnh của loại nấm này. Nấm Penicillium marneffei phân lập được lần tiên ở loài chuột tre (bamboo rat, Rhizomys sinensis) ở miền Nam Việt Nam, sau đó phát hiện thêm ở một vài loài gặm nhấm khác, những loại này phân bố chủ yếu ở Đông Nam Á. Mặc dù loài chuột tre được xem là vật mang mầm bệnh nhưng chưa rõ chúng có phải là vật dự trữ mầm bệnh quan trọng này không hay chỉ là loại động vật nhạy cảm với nấm ở môi trường. Nấm Penicillium marneffei cũng đã phân lập được từ hang chuột tre. Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng đất là nơi dự trữ mầm bệnh chính, nấm lây lan vào người qua đường hô hấp tương tự như các loại nấm lưỡng cực khác.

Nấm Penicillium marneffei có khả năng gây bệnh ở người bình thường cũng như người bị suy giảm miễn dịch, đây là một trong nững loại nấm gây bệnh cơ hội. Đối với người có khả năng miễn dịch bình thường, bệnh do nhiễm nấm Penicillium marneffei có thể khu trú hoặc lan tỏa, trong đó thể lan tỏa có biểu hiện bệnh lý rất giống bệnh lao.

Trên bệnh nhân nhiễm HIV, thường chẩn đoán được nhiễm nấm Penicillium marneffei ở giai đoạn bệnh lan tỏa. Tổn thương hay gặp nhất là ở da, hệ lưới nội mô, phổi và đường tiêu hóa. Một số trường hợp có thể bị nhiễm nấm máu và lan tới các cơ quan như thận, xương, khớp, màng ngoài tim. Biểu hiện lâm sàng thường không đặc hiệu, người bệnh chỉ có triệu chứng sốt, thiếu máu, gầy sút nhanh. Tổn thương ở da thường gặp gồm các nốt sẩn, hoại tử lõm trung tâm giống bệnh u hến lây (molluscum contagiosum) hay thấy ở mặt, thân mình, tứ chi. Trong nhiều trường hợp có áp xe dưới da, viêm loét kéo dài. Hạch lympho thường sưng, đau, có thể loét, hóa mủ và có lỗ dò.

Việc chẩn đoán xác định bệnh thường căn cứ vào kết quả xét nghiệm phát hiện nấm Penicillium marneffei ở các bệnh phẩm là mô nhiễm nấm, đặc biệt là ở da, tủy xương, máu, hạch lympho... Bệnh phẩm có thể xét nghiệm trực tiếp, giải phẩu bệnh, nuôi cấy và chẩn đoán miễn dịch.

Phương pháp xét nghiệm trực tiếp bệnh phẩm nhuộm giemsa với phết áp da, tủy xương cho phép chẩn đoán nhanh, nhạy khi phát hiện các tế bào nấm men có vách trung tâm trong tổ chức tế bào hoặc rải rác trong tổ chức tế bào. Tế bào nấm men thường hình tròn, hình ê líp, kích thước khoảng từ 2 đến 6 µm, có vách ngăn ở giữa.

Phương pháp giải phẩu bệnh từ bệnh phẩm nhuộm Grocott’s methenamine thấy những tế bào hình tròn hoặc hình ovale trong hoặc ngoài tế bào, đôi khi thấy những tế bào kích thước lớn, kéo dài thành hình xúc xích với kích thước tới 8 µm, có vách ngăn đặc hiệu.

Phương pháp nuôi cấy được thực hiện ở hai nhiệt độ khác nhau vì nấm gây bệnh là một loại nấm lưỡng dạng. Nếu nuôi cấy ở nhiệt độ của phòng thí nghiệm, nấm mọc chậm, thường khoảng sau từ 2 đến 4 tuần nấm mới mọc. Khuẩn lạc nấm giống khuẩn lạc của các loại nấm Penicillium hoại sinh nhưng sinh sắc tố đỏ lan tỏa vào môi trường. Soi vi thể thấy những sợi nấm không màu, có vách ngăn, đính bào đài thành nhẵn, đầu có hai lớp tiểu bào đài, bào tử tròn, kích thước khoảng từ 2 đến 3 µm, mọc thành chuỗi. Nếu nuôi cấy ở nhiệt độ 37oC, khuẩn lạc nấm màu vàng nâu, có nếp nhăn, không sinh sắc tố đỏ. Soi kính hiển vi thấy những tế bào nấm men có kích thước từ 2 đến 6 µm, có vách ngăn ở giữa.

Phương pháp chẩn đoán miễn dịch hiện nay chưa có xét nghiệm chẩn đoán nào lưu hành trên thị trường. Đã có một số kết quả khả quan trong nghiên cứu một loại kháng nguyên mannoprotein thành tế bào Mplp ứng dụng trong chẩn đoán.

BS Đạt cho biết, bệnh do nấm Penicillium marneffei hình ảnh tổn thương da là mụn sẩn, lõm ở trung tâm, hoại tử tạo vảy đen, không đau, không ngứa. Vị trí tổn thương ở mặt, hoặc toàn thân. Nấm nhiễm vào máu gây sốt, tổn thương da, thiếu máu, gan lách to, hạch to, suy kiệt. Biểu hiện ở phổi có ho khan, sốt, có thể có khó thở mức nhẹ và vừa. Xét nghiệm bằng soi tươi bệnh phẩm; cấy tìm nấm trong máu, da, tủy xương, hạch. 
Về điều trị, ở giai đoạn tấn công 2 tuần dùng Amphotericin B (0,7 – 1,5 mg/kg/ngày); ở giai đoạn củng cố 8-10 tuần dùng Itraconazole 200 mg x 2 lần/ngày. Ở trẻ em dùng liều 5-6 mg/kg x 2 lần/ngày. Phác đồ thay thế có thể dùng Itraconazole 200 mg x 2 lần/ngày x 8 tuần.

Ở giai đoạn duy trì dùng Itraconazole 200 mg/ngày ở người lớn và 3 mg/kg/ngày đối với trẻ em. Ngừng điều trị duy trì khi người bệnh điều trị ARV có số CD4 > 200 tế bào/mm3 duy trì liên tục ≥ 6 tháng.

Hoa Phượng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 198

Số lượt truy cập: 9350797

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang