Theo các chuyên gia dinh dưỡng, xem xét cơ chế bệnh sinh của thấp còi theo các giai đoạn tăng trưởng của trẻ cho thấy các yếu tố tác động từ thời kỳ tiền thai như tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ trước và trong khi mang thai, tuổi của phụ nữ khi có thai và khoảng cách giữa các lần sinh con, cũng như tình trạng khi sinh của trẻ (đẻ non/ trẻ nhỏ bé hơn so với tuổi thai) có ảnh hưởng quan trọng tới tình trạng thấp còi của trẻ vì các yếu tố này không những ảnh hưởng tới trẻ khi trẻ còn trong bào thai mà nó còn tiếp tục tác động đến chiều cao của đứa trẻ khi trẻ được sinh ra đời.

Trong số đó, giai đoạn 1000 ngày đầu đời là giai đoạn vàng cho các can thiệp giảm suy dinh dưỡng thấp còi vì trong giai đoạn này nếu được chăm sóc dinh dưỡng và sức khỏe tốt trẻ có thể đạt được tốc độ tăng trưởng tối đa.
Các can thiệp như khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM), cho trẻ ăn bổ sung, phòng chống nhiễm khuẩn, thực hành vệ sinh, nước sạch, môi trường, bổ sung đa vi chất là các can thiệp đã được chứng minh có tác động rõ rệt, có thể giảm suy dinh dưỡng thấp còi ở các mức độ khác nhau. Do đó, việc nắm bắt được cửa sổ cơ hội này để có tác động phù hợp là quan trọng, vì ngay sau đó, giai đoạn trẻ đạt 24 tháng tuổi là cơ hội cuối cùng để bắt kịp đà tăng trưởng. Nếu can thiệp tiến hành sau giai đoạn này hầu như là quá muộn, không có tác dụng cải thiện tầm vóc, trẻ sẽ có thêm nguy cơ mắc các bệnh mạn tính khi trưởng thành.
Đối với các yếu tố nguy cơ của suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ em Việt Nam, Việt Nam là một nước đang phát triển và không phải là ngoại lệ đối với gánh nặng của suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi. Các nguyên nhân và đặc điểm của các yếu tố nguy cơ có ảnh hưởng tới suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em Việt Nam bao gồm tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn ở phụ nữ tuổi sinh đẻ, trẻ có cân nặng sơ sinh thấp, thực hành chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ chưa hợp lý, thiếu đa vi chất dinh dưỡng, mất an ninh lương thực và nghèo đói còn cao và phổ biến ở nhiều vùng trên cả nước và có nguy cơ hạn chế hiệu quả của các cố gắng giảm suy dinh dưỡng thấp còi nếu không được quan tâm giải quyết đúng mực.
Suy dinh dưỡng (thiếu năng lượng trường diễn) của bà mẹ còn là một vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam. Theo các số liệu của Viện Dinh dưỡng, năm 2007 có khoảng 20,2% phụ nữ có cân nặng theo chiều cao thấp (quá gầy). WHO khuyến cáo rằng khi tỷ lệ này trên 20% thì đó là một vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng. Trong khi đó, 36/65 tỉnh (56%) ở Việt Nam có tỷ lệ suy dinh dưỡng ở phụ nữ ở mức cao hơn tỷ lệ này. Thêm vào đó, năm 2010 có khoảng 27,7% phụ nữ 20-25 tuổi bị thiếu năng lượng trường diễn (BMI<18,5kg/m2); 26,7% phụ nữ không mang thai và 37,6% phụ nữ mang thai bị thiếu máu; điều này có thể gián tiếp chỉ ra tình trạng thiếu đa vi chất là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng thấp còi của trẻ.

Tình trạng kém phát triển trong bào thai với khoảng 7% trẻ sinh ra nhẹ cân. Mặc dù đây không phải là một tỷ lệ cao nhưng tỷ lệ cân nặng sơ sinh thấp cũng khác nhau giữa các vùng trên cả nước. Thêm vào đó, đây là số liệu căn cứ vào kết quả cân của 87% trẻ được sinh ra, đối với những trẻ sinh ra không được cân thì nguy cơ còn cao hơn (đối với những trẻ không được sinh ra tại các cơ sở y tế). Như vậy, theo cơ chế bệnh sinh của thấp còi đã trình bày ở trên, với tỷ lệ cân nặng sơ sinh thấp của Việt Nam thì hàng năm có khoảng trên 500 nghìn trẻ dưới 5 tuổi có nguy cơ cao bị suy dinh dưỡng thấp còi.
Các hạn chế về thực hành chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, chỉ có 57,8% trẻ sơ sinh được bú sữa mẹ sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh, 16,9% trẻ em 0-5 tháng được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn và chỉ 22,9% trẻ được tiếp tục cho bú sữa mẹ đến 20-23 tháng tuổi. Cho trẻ ăn bổ sung cũng có nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Trong khi số lượng thực phẩm ăn bổ sung được cung cấp cho trẻ còn thiếu ở nhiều nơi thì bữa ăn bổ sung của trẻ còn nghèo nàn về năng lượng, thành phần chất đạm và vi chất. Hơn nữa, tình trạng này không có nhiều cải thiện trong những năm qua.
Thiếu sắt ở trẻ em, một chỉ tiêu đánh giá thiếu máu còn gặp ở 36,7% trẻ em dưới 5 tuổi. Cũng giống như tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ, tỷ lệ này ở trẻ em không giảm nhiều từ năm 2000 và chỉ giảm khoảng 10% so với năm 1995. Ngược lại, thiếu vitamin A và thiếu I ốt đã được giải quyết và cải thiện một cách ngoạn mục thông qua các chương trình quốc gia về bổ sung vitamin A và bổ sung I ốt vào muối.
Tình trạng mất an ninh lương thực và đói nghèo ở một số nơi có thể góp phần gia tăng tình trạng thấp còi, nhất là ở những nơi có tỷ lệ suy dinh dưỡng phụ nữ tuổi sinh đẻ ở mức cao. Nó có thể tác động tới chất lượng của bữa ăn bổ sung của trẻ nhưng các nguyên nhân thông thường này thường lại liên quan tới trình độ học vấn và văn hóa của bà mẹ bao gồm thói quen ăn uống trong khi mang thai cũng như chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ và các thành viên trong hộ gia đình, chế độ ăn kiêng và chăm sóc thực phẩm tối ưu cho trẻ.
Các chuyên gia dinh dưỡng lưu ý, các yếu tố nguy cơ sinh bệnh học của thấp còi ở Việt Nam còn xuất hiện khá phổ biến. Vì thế, mặc dù cần có thêm bằng chứng để chứng minh hiệu quả can thiệp nhưng nuôi con bằng sữa mẹ, cho trẻ ăn bổ sung hợp lý, bổ sung đa vi chất, đảm bảo vệ sinh nước sạch môi trường, dự phòng và chăm sóc trẻ bệnh… được coi là các giải pháp có tác dụng giảm suy dinh dưỡng ở trẻ, trong đó có thấp còi. Chừng nào các yếu tố nguy cơ này chưa được kiểm soát đúng mức bằng việc triển khai các giải pháp can thiệp thì các nỗ lực giảm suy dinh dưỡng thấp còi, cải thiện chiều cao của người Việt Nam còn có nhiều khó khăn không đạt được hiệu quả mong đợi.
Huy Hoàng