[Đăng ngày: 21/08/2018]
Tiểu đêm được định nghĩa là sự than phiền một cá nhân phải thức giấc vào ban đêm một hay nhiều lần để đi tiểu (ICS, 2002).

Theo thống kê, có 4% trẻ em trong độ tuổi từ 7-15 tuổi bị tiểu đêm thường xuyên, 58% ở phụ nữ và 66% nam giới trong độ tuổi 50-59; 72% ở phụ nữ, 91% nam giới trên 80 tuổi.

Trước đây, người ta cho rằng tiểu đêm là triệu chứng của các bệnh lý khác nhau, hoặc là một trong các triệu chứng của đường tiết niệu dưới (LUTS), nhưng hiện nay tiểu đêm không chỉ thấy trên bệnh nhân của phòng khám tiết niệu, mà còn thấy ở các phòng khám phụ khoa, lão khoa, thần kinh, phòng khám về giấc ngủ, nội tiết học … Đa niệu về đêm là nguyên nhân chính gây tiểu đêm (>70%).

Tiểu đêm là nguyên nhân thường gặp nhất gây gián đoạn giấc ngủ ở người trên 50 tuổi. Giấc ngủ bị gián đoạn sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc, sức khỏe, sức sống và nhịp sinh học …

Bệnh nhân tiểu đêm mới chợp mắt được khoảng 2-3 giờ của giấc đầu tiên thì bị đánh thức bởi buồn tiểu, do vậy tiểu đêm làm gián đoạn nghiêm trọng sóng chậm khi ngủ (SWS). Giảm sóng chậm khi ngủ sẽ giảm hiệu quả giấc ngủ, rối loạn thời gian dài hoặc ngắn của giấc ngủ và có thể dẫn đến tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong; làm giảm sức khỏe (bao gồm tăng huyết áp, sự cân bằng nội môi của đường, cân bằng miễn dịch); giảm chất lượng cuộc sống và năng suất làm việc.

Kết quả từ nhiều nghiên cứu cho thấy đi tiểu > 2lần/đêm là ngưỡng tác động tiêu cực có ý nghĩa đến tỷ lệ bệnh tật và tử vong, tỷ lệ gãy xương và chất lượng sống. Đi tiểu 1lần/đêm là ít có khả năng có những hậu quả nghiêm trọng. Nếu điều trị có thể làm giảm số lần tiểu đêm < 2lần/đêm, nguy cơ và sự khó chịu cho bệnh nhân có thể được giảm đáng kể.

Để đánh giá và chẩn đoán tiểu đêm, cần hỏi bệnh sử và khám lâm sàng, tập trung vào các yếu tố bệnh sinh liên quan đến tiểu đêm.

Trước hết cần hỏi bệnh nhân xem có rối loạn giấc ngủ không? Giấc ngủ đủ cần ít nhất 6 giờ bao gồm giai đoạn ngủ say. Ngủ không đủ thường có tình trạng tiểu đêm. Ngược lại tiểu đêm cũng sinh ra mất ngủ và dẫn đến nhiều hệ lụy không tốt khác như suy nhược tinh thần, suy giảm nhận thức, dễ té ngã có thể gây chấn thương ….

Xem xét lượng nước uống vào có quá nhiều không?

Thói quen uống nước nhiều trước khi đi ngủ, uống nhiều bia rượu … là những nguyên nhân gây ra tiểu đêm. Chứng khát nhiều có thể nguyên phát hoặc thứ phát do một số bệnh lý, khiến cho bệnh nhân phải uống quá nhiều nước, cũng gây ra tiểu nhiều lần và tiểu đêm.

Phát hiện các bệnh lý nội khoa có thể gây ra tiểu đêm: Một số bệnh lý tim mạch (suy tim sung huyết, bệnh mạch vành, tăng huyết áp, phù ngoại vi do giãn tĩnh mạch chi dưới, tai biến mạch máu não …); Một số bệnh nội tiết (đái tháo đường không được kiểm soát tốt, đái tháo nhạt …); Các rối loạn tâm – thần kinh (lo lắng, suy nhược thần kinh, bệnh sa sút trí tuệ Alzheimer, bệnh liệt rung Parkinson, bệnh lý mạch máu não …); Một số bệnh đường hô hấp (bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản, khí thũng phổi …) được cho là có thể sinh ra tình trạng tiểu đêm.

Phát hiện các bệnh lý tiết niệu: Viêm nhiễm, sỏi, bướu … của đường tiểu dưới; OAB; bàng quang thần kinh; tăng hoạt hay giảm hoạt cơ chóp bàng quang; BPH hay LUTS; BOO … thường gây ra rối loạn chức năng đường tiểu dưới trong đó có tiểu đêm.

Phát hiện các bệnh lý sản phụ khoa: Một số tình trạng sản phụ khoa như có thai, u xơ tử cung to, mãn kinh, sa tạng chậu … có thể sinh ra các triệu chứng đường tiểu dưới bao gồm tiểu đêm.

Khảo sát việc sử dụng thuốc: Thường gặp nhất là việc dùng thuốc lợi tiểu, vì làm cho đa niệu toàn bộ và qua đó làm gia tăng tình trạng tiểu đêm. Một số thuốc được chứng minh là có cơ chế gây ra tiểu đêm hay đa niệu:

- Thuốc ức chế kênh calci: gây ức chế sự tái hấp thu natri ở ống lượn gần hoặc làm tăng mức natridi-uretic peptide của tâm nhĩ; thúc đẩy tình trạng phù ngoại vi hay phù chân.

- Các thuốc Conivaptan, Tolvaptan: là chất đối vận V2-receptor.

- Carbonic anhydrase: làm giảm tái hấp thu natri và bicarbonate ở ống lượn gần.

- Sử dụng quá mức các vitamin A và D; thiazides: làm tổn thương ống thận – mô kẽ, dẫn đến đẩy calci vào tủy thận, gây cản trở việc cô đặc ở thận.

- Dùng NSAIDs, thiazolidinedione, thuốc kháng tiểu đường, thuốc GABAnergics: gây ra phù ngoại vi và/hoặc phù phụ thuộc.

Một số thuốc có khả năng liên quan tới đa niệu/ tiểu đêm: Gây ra khát nhiều (polydipsia): Phenothiazide; kháng cholinergic; Gây ra đa niệu nhạt trung ương: ethanol; phenytoin; morphine liều thấp; glucocorticoids; flu-phenazine; haloperidol; antipsychotics không đặc hiệu; peomethazine; oxilorphan; butorphanol; Gây ra đa niệu nhạt ngoại vi (ở thận): lithium; demeclocycline; cisplatin; amphotericin B; foscarnet; fosfamide; clozapine.

Ghi nhận tuổi tác, giới tính và thể trạng: Xuất độ mắc tiểu đêm gia tăng theo tuổi tác. Nhìn chung, xuất độ bị tiểu đêm của nam và nữ giới tương đương nhau.

Người béo phì dễ bị tiểu đêm nhiều hơn người không bị béo phì. Báo cáo của Tikkinen (2006), nghiên cứu trên 3.500 người từ 18-79 tuổi, cho thấy tiểu đêm liên quan đến béo phì trên cả 2 phái nam và nữ.

Công cụ then chốt để đánh giá và chẩn đoán tiểu đêm là lập bảng ghi chép thời lượng đi tiểu (FVC- Flow volume Chart). Cần lưu ý khi ghi chép thực hiện FVC: thời điểm và lượng tiểu của mỗi lần tiểu, cả ngày cũng như đêm; Giờ đi ngủ, giờ thức giấc, để tính được khoảng thời gian đi ngủ; Tùy theo tình trạng bệnh nhân, có thể ghi FVC từ 3-7 ngày.

Dựa trên FVC, thầy thuốc có thể đánh giá: Tiểu nhiều lần vào ban ngày hay ban đêm; Đa niệu cả ngày hay đa niệu về đêm; Giảm dung tích bàng quang toàn bộ hay chỉ ban đêm; Cụ thể hóa về định lượng nhằm chẩn đoán tiểu đêm.

Sau khi đã xác định có tiểu đêm, bước tiếp theo là chẩn đoán phân loại gồm Đa niệu (polyuria); trong đó có đa niệu toàn bộ và đa niệu về đêm; phân loại đối với nhóm giảm dung tích bàng quang gồm giảm toàn bộ hay giảm dung tích bàng quang về đêm; phân loại dạng kết hợp giữa 2 nhóm trên và nhóm 4 là dạng không đa niệu cũng không giảm dung tích bàng quang.

Về điều trị chứng tiểu đêm bằng liệu pháp hành vi, điều chỉnh thói quen sinh hoạt là điều trị cơ bản ban đầu cho các bệnh nhân tiểu đêm. Bệnh nhân khi tham gia một hoặc nhiều liệu pháp hành vi sau đây sẽ mang lại một số hiệu quả nhất định. Điều trị thay đổi hành vi lối sống cũng thường kết hợp một cách có hiệu quả với điều trị đặc hiệu các nguyên nhân gây tiểu đêm.

Các phương thức thay đổi lối sống (lifestyle modifications) gồm có: Đi tiểu trước khi ngủ; Hạn chế uống nước sau khi ăn tối và trước khi đi ngủ. Cần cẩn thận đối với những người lớn tuổi đã quen uống nhiều nước; Tránh các thức uống lợi niệu: cà phê, bia rượu vào thời điểm chiều tối; Tập thể dục vào buổi tối: đi bộ, chơi thể thao nhẹ, yoga … huy động được lượng dịch gian bào vào hệ tuần hoàn máu, đẩy ra ngoài qua mồ hôi. Tạo giấc ngủ tốt và chống được stress; Tạo nơi ngủ thoải mái: giường, nệm, nhiệt độ, tiếng ồn, ánh sáng; Bệnh nhân có phù chi dưới nên băng chặt chân hay nâng cao chân một thời gian trước khi đi ngủ; Thay đổi thời gian dùng thuốc lợi niệu ở những bệnh nhân tăng huyết áp và suy tim sung huyết; Sử dụng thuốc an thần gây ngủ; Điều trị bệnh kết hợp: Đái tháo đường cần được kiểm soát.

Đức Bảo
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 209

Số lượt truy cập: 9289146

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang