[Đăng ngày: 15/08/2018]
Viêm cột sống dính khớp (VCSDK) là một bệnh khớp viêm mạn tính, không rõ nguyên nhân, bệnh gặp chủ yếu nam giới trẻ tuổi. Đặc trưng cơ bản của bệnh bởi sự kết hợp giữa viêm khớp cùng chậu – cột sống, hội chứng bám tận (viêm các gân bám tận tại xương) và hội chứng ngoài khớp ở các mức độ khác nhau. 

Tổn thương cơ bản của bệnh lúc đầu là xơ teo, sau đó là canxi hóa dây chằng, bao khớp và có kèm theo viêm nội mạc các mao mạch. Hậu quả của bệnh rất nặng nề: dính khớp, dính cột sống, tạo tư thế xấu và đôi khi gãy xương. Loãng xương được coi là biến chứng của bệnh VCSDK ở giai đoạn bệnh muộn, do hạn chế vận động cột sống và các khớp vì hiện tượng cốt hóa và dính hàn khớp, dính các đĩa liên đốt và dây chằng quanh đốt sống tạo cầu xương. Từ các nghiên cứu về mật độ xương (MĐX) ở bệnh nhân VCSDK trên thế giới cho thấy hậu quả của bệnh ngày càng nặng nề như tăng tần suất gãy xương sau chấn thương nhẹ, gây các biến chứng thần kinh, các biến chứng tại cột sống, các khớp và toàn thân. 

Nguyên nhân của loãng xương ở bệnh lý VCSDK cho đến nay vẫn còn được tiếp tục nghiên cứu. Sự mất xương ở VCSDK xảy ra từ rất sớm do nhiều yếu tố và có thể liên quan nhiều cơ chế khác nhau ở giai đoạn bệnh khác nhau. Loãng xương do giảm vận động, giảm hấp thụ calcium và phospho ở ruột, điều trị thuốc chống viêm không steroid, rối loạn hormon hoặc tình trạng viêm toàn thân hoặc khu trú. 

Ngày nay có nhiều giả thuyết cho rằng mất xương ở bệnh nhân VCSDK do nhiều yếu tố như là bất động, giảm hấp thụ calci và vitamin D, rối loạn hormon, sử dụng thuốc chống viêm không steroid, yếu tố di truyền và ngoài ra vai trò của cytokin viêm tại chỗ và toàn thân đã được đề cập đến. 
Di chứng nặng nề ở giai đoạn cuối của bệnh VCSDK lên cột sống và một số khớp ngoại vi mà chủ yếu là dính và mất khả năng vận động hai khớp háng làm hạn chế nặng nề khả năng vận động của bệnh nhân, đây là nguyên nhân gia tăng khả năng loãng xương ở các bệnh nhân VCSDK.

Nhóm tác giả nghiên cứu Đào Xuân Thành cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Nhận xét một số yếu tố ảnh hưởng đến mật độ xương ở bệnh nhân viêm cột sống dính khớp”. Đối tượng nghiên cứu là 50 bệnh nhân VCSDK với di chứng của bệnh là viêm dính hoặc hàn khớp háng, có chỉ định thay khớp háng được điều trị nội trú tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 3/2007 đến tháng 11/2014.

Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: Bệnh nhân được chẩn đoán VCSDK theo tiêu chuẩn chẩn đoán New York sửa đổi 1984. Bệnh nhân có viêm dính hoặc hàn khớp háng một hoặc cả 2 bên và có chỉ định thay khớp háng toàn phần. Có đầy đủ hồ sơ bệnh án, đo mật độ xương.
Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân không có đầy đủ các tiêu chuẩn trên. Bệnh nhân không tuân thủ chế độ khám định kỳ, không tái khám hoặc không liên lạc được. Hồ sơ bệnh án không đầy đủ, không có kết quả đo mật độ xương.

Tác giả nghiên cứu báo cáo, độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 32,5; người thấp nhất là 17 tuổi, cao nhất là 63 tuổi. Nhóm 20 – 30 tuổi chiếm tỷ lệ 44%; nhóm 20 – 60 tuổi chiếm 76%.
BS Đào Xuân Thành phân tích, mối liên quan giữa mật độ xương và tuổi: Mật độ xương tăng và giảm tùy theo độ tuổi. Trong các yếu tố có ảnh hưởng đến MĐX, độ tuổi là yếu tố đứng hàng đầu. Trong giai đoạn dậy thì, mật độ xương tăng rất nhanh và đạt mức độ đỉnh vào độ tuổi từ 20 đến 30. Ở người bình thường, sự mất xương liên quan đến tuổi đóng một vai trò quan trọng đối với cơ chế bệnh sinh của loãng xương. Từ 35-40 tuổi, sự mất xương sinh lý đã bắt đầu xảy ra ở cả hai giới với tốc độ từ 0,1-0,5% mỗi năm, tăng lên nhanh 1-3% mỗi năm ở nữ giới sau giai đoạn mãn kinh và kéo dài 5-10 năm sau khi ngừng hoạt động kinh nguyệt, tuổi càng cao MĐX càng giảm ở cả hai giới.

Kết quả nghiên cứu thấy mật độ xương trung bình tại cả CSTL và CXĐ tăng dần theo các nhóm tuổi có ý nghĩa thống kê với p <0,05. Kết quả nghiên cứu phù hợp với nghiên cứu của tác giả Hatinder và cộng sự. Nhận thấy nhóm bệnh nhân VCSDK < 30 tuổi chiếm 60%, tương tự với tác giả Mai Thị Minh Tâm (2008) nhóm từ 17 đến 30 tuổi là 64%. Ở nhóm tuổi 20-30 tuổi là nhóm có mật độ xương đỉnh cao nhất, tuy nhiên với kết quả của nghiên cứu mật độ xương trung bình tại CSTL nhóm 20-30 tuổi (0,777 + 0,148) lại thấp hơn nhóm > 30 tuổi và đặc biệt thấp hơn hẳn nhóm >50 tuổi (1,308). Sự biến thiên MĐX theo nhóm tuổi như vậy cho thấy tại CSTL mật độ xương tăng dần theo nhóm tuổi có thể do hiện tượng cốt hóa dây chằng quanh đốt sống và sự hạn chế của phương pháp đo mật độ xương DEXA chiều sau trước. Hơn nữa, nhóm tuổi < 30 tuổi là độ tuổi lao động chính nhưng lại hạn chế vận động rất sớm như vậy do đó ảnh hưởng tới mật độ xương như chúng ta thấy rất rõ rệt. Còn các bệnh nhân nhóm > 50 tuổi do xuất hiện các triệu chứng muộn và vì vậy phát hiện bệnh muộn nên sự hạn chế vận động xảy ra chậm hơn do đó có lẽ ít ảnh hưởng đến mật độ xương hơn. Ở bệnh nhân trẻ tuổi (< 30 tuổi) có MĐX tại CXĐ thấp có thể có liên quan đến tình trạng viêm khớp háng nặng và viêm khớp cùng chậu giai đoạn 3 hoặc 4. Như vậy tuổi là một yếu tố ảnh hưởng đến MĐX tại CSTL và CXĐ ở bệnh nhân VCSDK, tuổi càng cao thì MĐX lại càng tăng.

Đối với mối liên quan giữa mật độ xương và chỉ số khối cơ thể BMI: nghiên cứu cho thấy BMI là một yếu tố nguy cơ của loãng xương, những người có chỉ số BMI thấp thường dễ bị loãng xương hơn. Trong nghiên cứu của chúng tôi, theo bảng 1 và 5, kết quả cho thấy mật độ xương trung bình ở cột sống thắt lưng của bệnh nhân nghiên cứu cao nhất ở nhóm có BMI trên 23, tiếp đến là nhóm có BMI dưới 18 và thấp nhất ở nhóm có BMI từ 18-22,9, tuy nhiên sự khác biệt này chưa có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Mật độ xương trung bình ở cổ xương đùi của bệnh nhân nghiên cứu tăng theo chỉ số BMI, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Điều này có nghĩa là bệnh nhân có chỉ số khối cơ thể cao thì BMD trung bình tại CXĐ càng tăng.

So sánh với nhận xét của tác giả El Maghraoui A năm 1999 nghiên cứu trên 80 bệnh nhân VCSDK (52 bệnh nhân nam và 28 bệnh nhân nữ) kết quả là bệnh nhân có loãng xương có chỉ số khối cơ thể thấp hay nói cách khác bệnh nhân VCSDK dễ dẫn tới loãng xương khi có chỉ số khối cơ thể thấp. Như vậy chỉ số khối cơ thể có liên quan đến mật độ xương tại cổ xương đùi. Không thấy mối liên quan với MĐX tại CSTL.
Đối với mối liên quan giữa mật độ xương và giới: kết quả nghiên cứu cho thấy giới là một yếu tố nguy cơ độc lập tác động lên xương, mặc dù mất xương là hiện tượng sinh lý xuất hiện từ sau tuổi 40 ở cả hai giới, song tốc độ mất xương ở nam và nữ khác nhau. Ở tuổi 70 có tới 50% phụ nữ sau mãn kinh có biểu hiện mất xương trong khi đó nam giới chỉ có 25% có biểu hiện mất xương ở độ tuổi 80. Sự mất xương ở nữ xuất hiện sớm hơn từ 15-20 năm so với nam giới là do hậu quả của sự suy giảm chức năng buồng trứng một cách nhanh chóng.

Tác giả Đỗ Thị Khánh Hỷ nghiên cứu trên đối tượng là người cao tuổi (> 50 tuổi), đo MĐX bằng phương pháp DEXA cho thấy tỷ lệ loãng xương ở nữ giới cao hơn nam giới trong cùng độ tuổi, tuổi càng cao thì tỷ lệ này càng rõ rệt. Ở nữ giới ngoài sự mất xương theo tuổi còn có mất xương liên quan đến mãn kinh. Tuy nhiên, theo kết nghiên cứu tác giả lại nhận thấy mật độ xương trung bình tại cột sống thắt lưng và cổ xương đùi ở nữ cao hơn ở nam và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Kết quả này không đồng thuận so với các tác giả khác có lẽ do bệnh nhân nghiên cứu nam giới chiếm đa số, thêm vào đó nữ giới cũng chủ yếu ở lứa tuổi trẻ, ở độ tuổi mãn kinh quá ít do đó không đại diện được cho quần thể. Như vậy giới có liên quan đến mật độ xương trung bình tại cột sống thắt lưng và cổ xương đùi ở bệnh nhân VCSDK.
Đối với mối liên quan giữa mật độ xương và thể VCSDK: kết quả nghiên cứu có tới 90% bệnh nhân là thể phối hợp tức là thể có kèm theo các tổn thương tại cột sống, chỉ có 10% thể ngoại vi. Các tổn thương tại cột sống cổ, cột sống lưng và cột sống thắt lưng các mức độ như hạn chế vận động, dính và mất vận động hoàn toàn chính là yếu tố tác động đến mật độ xương bởi mật độ xương chịu ảnh hưởng của sự vận động. Tác giả nhận thấy mật độ xương trung bình ở cột sống thắt lưng và cổ xương đùi của nhóm viêm cột sống dính khớp thể ngoại vi cao hơn nhóm thể hỗn hợp, tuy nhiên sự khác biệt này chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). 
Tác giả nghiên cứu kết luận, loãng xương là một biến chứng đáng kể trong viêm cột sống dính khớp và cần phải được theo dõi liên tục. Các yếu tố lâm sàng về độ tuổi, giới, chỉ số khối cơ thể có liên quan đến mật độ xương của các bệnh nhân VCSDK.
Mai Trang

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 221

Số lượt truy cập: 9289158

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang