Ung thư phổi chiếm tỷ lệ cao và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong tất cả các loại bệnh ung thư. Trên thế giới trong số khoảng 12,7 triệu trường hợp ung thư mới mắc được chẩn đoán hàng năm, ung thư phổi nguyên phát chiếm 1,61 triệu trường hợp (12,7%), với 1,38 triệu trường hợp tử vong.
Tại Việt Nam, ung thư phổi nguyên phát có xuất độ cao, đặc biệt ở nam giới, với tỷ lệ 24,6 bệnh nhân/100.000 dân tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh và 38,8 bệnh nhân/100.000 dân tại khu vực Hà Nội. Từ năm 2005-2006, trong 93719 trường hợp tử vong do ung thư trong đó có 22209 do ung thư phổi.

Đa số các trường hợp ung thư phổi được phát hiện ở giai đoạn muộn không còn khả năng điều trị triệt để. Theo hầu hết các tài liệu thống kê trong và ngoài nước thì chỉ có khoảng 15-20% bệnh nhân ung thư phổi được phát hiện ở giai đoạn còn có khả năng phẫu thuật điều trị triệt để. Phát hiện sớm, chẩn đoán chính xác giai đoạn và lựa chọn phương pháp điều trị tối ưu góp phần nhìn nhận rõ hơn bức tranh toàn cảnh về ung thư phổi.
Các nghiên cứu về ung thư phổi đã được thực hiện nhiều ở các trung tâm lớn trong và ngoài nước, tuy nhiên các kết quả nghiên cứu đánh giá về tình trạng di căn hạch rốn phổi và trung thất đối chiếu với chụp CT scan và đặc biệt là PET – CT trước mổ và kết quả mô học hạch sau mổ còn rất khác nhau. Nhóm nghiên cứu tác giả Nguyễn Trường Giang tiến hành nghiên cứu nhằm mục đích: đánh giá tình trạng di căn hạch so sánh giữa kết quả chụp CT scan, PET-CT và tổn thương mô bệnh học trong ung thư phổi tế bào không nhỏ.
Từ tháng 01/2014 đến tháng 03/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Trường Giang cùng cộng sự Bệnh viện 103 - Học viện Quân y thực hiện nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Nhận xét đặc điểm di căn hạch trên CT scan, PET-CT đối chiếu với tổn thương mô bệnh học trong ung thư phổi không tế bào nhỏ”.
Bác sĩ Giang báo cáo, có 29 trường hợp tham gia nghiên cứu, 27 nam, 2 nữ; tuổi nhỏ nhất là 36 tuổi, người lớn tuổi nhất 80 tuổi; độ tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 58,62. Tác giả nghiên cứu phân tích, ung thư phổi không tế bào nhỏ là bệnh lý khá thường gặp, trong thời gian 26 tháng qua tại khoa phẫu thuật Lồng ngực và Tim mạch, bệnh viện Quân Y 103 tiến hành phẫu thuật cắt thùy cho 29 bệnh nhân. Triệu chứng lâm sàng chủ yếu là ho khan (23 trường hợp, 79,31%) và đau tức ngực (21 trường hợp, 72,41%). Số bệnh nhân phát hiện tình cờ đi khám sức khỏe chiếm tỷ lệ cao (4 trường hợp, 13,79%). Điều này tương đương với các nghiên cứu của các tác giả. Những khối u phát hiện tình cờ thường nhỏ, ở giai đoạn I. Kết quả này hoàn toàn phù hợp giai đoạn bệnh sau mổ với 18 bệnh nhân giai đoạn IA và IB chiếm 62,07%.
Đối với vị trí tổn thương và hạch trên CT scan lồng ngực, tổn thương nằm ở bên phổi phải nhiều hơn 18 trường hợp chiếm 62,07%. Trong đó thùy trên chiếm tỷ lệ cao với 11/18 trường hợp, 61,11%. Nhận định này cũng giống một số tác giả khác. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa lý giải được tại sao ung thư phổi ở phổi phải chiếm tỷ lệ cao hơn phổi trái. Do cấu tạo về giải phẫu học, nên với những khối u bên phổi phải việc phẫu thuật cắt thùy điều trị ung thư dễ hơn phổi trái. Trong phẫu thuật cắt thùy, khó nhất là cắt thùy trên phổi trái, nếu không cẩn thận sẽ làm tổn thương nhánh động mạch của thùy dưới phổi trái, gây hoại tử hoặc mất chức năng thùy dưới. Chỉ có 3,45% trường hợp xác định rõ ràng có hạch trung thất và hạch rốn phổi trên CT scan lồng ngực có tiêm thuốc cản quang. Hầu hết các trường hợp còn lại đều khó khăn trong việc xác định hạch trên CT scan.
Về di căn hạch trên PET-CT đối chiếu với mô bệnh hạch sau mổ. Cả 4 trường hợp chụp PET-CT được xác định có di căn hạch, trong đó 2 trường hợp di căn hạch nhóm N2. Đối chiếu với mô bệnh hạch sau mổ thì nhóm N1 phù hợp 100%, còn nhóm N2 chỉ phù hợp 50%. Rõ ràng việc xác định di căn hạch trên PET-CT có ưu thế hơn hẳn trên CT scan. Tuy nhiên do giá thành cao nên chỉ có 4 bệnh nhân được chụp PET-CT nên chưa thể xác định được quy luật di căn nhóm hạch cụ thể.
Bác sĩ Giang cho rằng, trong điều trị ung thư nói chung, ung thư phổi không tế bào nhỏ nói riêng, nạo vét hạch là công việc quan trọng thứ hai sau phẫu thuật cắt rộng rãi khối u. Nó có giá trị trong việc loại bỏ tối đa tế bào ung thư ra khỏi cơ thể bệnh nhân, xác định chính xác giai đoạn, giúp cho quá trình điều trị hỗ trợ hậu phẩu và tiên lượng bệnh. Tất cả 29 bệnh nhân đều được nạo vét hạch, trong đó hạch số 10 chiếm tỷ lệ cao nhất 21 trường hợp, 72,4%, tiếp đến hạch số 4 và hạch số 9 với lần lượt là 24,1% và 20,4%. Đối chiếu với mô bệnh hạch sau mổ chỉ có 8 trường hợp, 27,59% có di căn hạch, trong đó di căn hạch số 4 chiếm 4 trường hợp, 50%, hạch số 10 là 2 trường hợp, 25%, hạch số 2 và hạch số 9 có 1 trường hợp (12,5%). Trong số 8 trường hợp xác định có di căn hạch, thì có 2 trường hợp thùy trên phải di căn hạch số 4, 2 trường hợp thùy trên trái di căn hạch số 10, thùy dưới trái: 1 trường hợp di căn hạch số 2, 1 trường hợp di căn hạch số 4, 1 trường hợp di căn hạch số 10 và 1 trường hợp di căn hạch số 9. Nhận định này một phần phù hợp với đặc điểm di căn hạch bạch huyết của ung thư phổi
Về đặc điểm mô bệnh học, ung thư biểu mô tuyến có 18 trường hợp; ung thư biểu mô tế bào vảy có 7 ca. Tác giả nghiên cứu cho rằng, do mẫu đối tượng nghiên cứu ít, vì vậy trong thời gian đến cần nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn.
Hữu Lai