Theo BS Vũ Quốc Đạt, bộ môn Truyền nhiễm Trường đại học Y Hà Nội, bệnh viêm não do Toxoplasma gondii là một trong những bệnh phối hợp hay gặp ở người nhiễm HIV.
Bệnh Toxoplasma do ký sinh trùng Toxoplasma gondii gây nên, được Nicolle và Manceaux mô tả lần đầu tiên năm 1908 khi phát hiện trong máu, lách và gan của Ctenodactylus gondii, một loài gặm nhấm ở Bắc Phi, ký sinh trùng này được đặt tên là Toxoplasma (dạng hình cung) gondii (tên loài gặm nhấm) vào năm 1909. Năm 1923, Janku tìm thấy các nang ký sinh trùng này ở võng mạc của một trẻ bị tràn dịch não, co giật và mắt một bên bị nhỏ.

Toxoplasma gondii tồn tại có 3 dạng là đoản trùng, thể hoạt động và thoa trùng. Toxoplasma gondii bắt buộc phải ký sinh nội tế bào, có một chu kỳ phát triển hữu tính ở loài mèo (là ký chủ vĩnh viễn) và một chu kỳ phát triển vô tính ở các ký chủ trung gian là các động vật máu nóng (trong đó có người, và kể cả loài mèo).
Chu kỳ phát triển hữu tính ở loài mèo (ký chủ vĩnh viễn): Mèo nuốt phải nang trứng hay nang trong mô (nang giả).Thoa trùng (hay đoản trùng nếu là nang giả) xâm nhập tế bào biểu mô ruột mèo.Sau nhiều chu kỳ phát triển ở ruột cho ra giao bào đực và giao bào cái.Giao tử đực xâm nhập giao tử cái, hình thành hợp tử; vách được tạo ra. Nang trứng chưa hóa bào tử được thải ra ngoài theo phân.Hóa bào tử (tạo ra thoa trùng) ở ngoại cảnh trong khoảng 72 giờ.
Chu kỳ phát triển vô tính ở ký chủ trung gian và ở loài mèo: Nuốt phải nang trứng hay nang trong mô (nang giả).Thoa trùng (ở nang trứng) hay đoản trùng (ở nang giả) xâm nhập thành ruột.Ký sinh trùng phát tán khắp cơ thể.Xâm nhập tế bào, hình thành các thể hoạt động nằm trong tế bào ký chủ.Tế bào ký chủ vỡ ra, các thể hoạt động xâm nhập các tế bào khác.Một số thể hoạt động chuyển thành đoản trùng; tạo vách (nang giả).Nang giả tăng kích thước, đoản trùng phát triển chậm, tăng số lượng.Một số nang trong mô nằm yên, một số bể ra phóng thích đoản trùng. Nếu miễn dịch suy giảm, đoản trùng có thể chuyển sang dạng hoạt động và tăng số lượng. Nếu có miễn dịch thì đoản trùng sẽ bị tiêu diệt.
Khi nhiễm Toxoplasma gondii lần đầu, mèo sẽ bắt đầu thải nang trứng 3 đến 10 ngày sau khi ăn thịt có nhiễm ký sinh trùng, và tiếp tục trong khoảng 10-14 ngày với hàng triệu nang trứng được thải ra. Một khi đã có phản ứng miễn dịch thì hiếm khi thải nang trứng ra nữa. Sau khi được thải ra ngoài trong phân, nang trứng sẽ hóa bào tử cho ra nhiều thoa trùng nằm trong đó. Tiến trình này kéo dài 1-5 ngày ở ngoại cảnh, trước giai đoạn này thì nang trứng không có khả năng gây nhiễm. Nang trứng có sức đề kháng rất cao trong ngoại cảnh và có thể sống sót đến hàng năm trời.
Ngoài phương thức lây nhiễm do ăn phải các nang trứng đã hóa bào tử hay các nang trong mô, còn có đường lây nhiễm qua nhau thai: khi còn trong tử cung, thai nhi có thể bị nhiễm nếu mẹ mắc bệnh trong lúc có thai, vì các thể hoạt động (tachyzoit) có thể đi xuyên qua nhau thai.
Lây truyền từ người mẹ là nguyên nhân của bệnh Toxoplasma bẩm sinh. Sự nhiễm bệnh có thể xảy ra trong tử cung hay trong khi sinh đẻ qua ngõ âm đạo. Chưa chứng minh được là có lây truyền qua sữa mẹ. Nói chung, chỉ khi nhiễm bệnh lần đầu tiên lúc mang thai mới có thể gây bệnh Toxoplasma bẩm sinh. Do đó rất hiếm khi đứa trẻ thứ hai bị bệnh Toxoplasma bẩm sinh, trừ phi người mẹ bị suy giảm miễn dịch, thường là do bệnh AIDS. Nếu người mẹ bị nhiễm bệnh trong vòng 6 tháng trước đó (tính đến lúc có thai) thì có thể lây bệnh cho con. Sự phơi nhiễm trong tử cung có thể dẫn đến việc hoặc trẻ không bị bệnh, hoặc có bệnh nhưng không triệu chứng, hoặc trẻ chết trong bụng mẹ. Khoảng 30% bào thai khi bị phơi nhiễm sẽ mắc bệnh, nhưng đa số là không có triệu chứng. Mức độ nặng của bệnh tùy thuộc vào tuổi của thai vào thời điểm bị lây nhiễm. Nói chung, nhiễm bệnh càng sớm thì bệnh càng nặng nhưng ít xảy ra. Khi bị nhiễm rất sớm (như trong 3 tháng đầu của thai kỳ) thì trẻ có thể bị chết trong bụng mẹ hay nếu được sinh ra thì có thương tổn nặng ở hệ thần kinh trung ương như có hóa vôi trong não và tràn dịch não.

Về triệu chứng lâm sàng, chỉ có 10 - 20% bệnh ở người lớn và trẻ em là có triệu chứng, nhưng đây sẽ là bệnh nặng, đe dọa đến tính mạng nếu bị suy giảm miễn dịch. Bệnh do Toxoplasma bẩm sinh có thể nhẹ hoặc nặng, khởi phát trong tháng đầu tiên sau khi sinh hoặc nếu không được chẩn đoán sẽ có di chứng hay tái phát bệnh vào bất kỳ thời điểm nào sau này.
Bệnh cấp tính ở người có hệ miễn dịch bình thường: Khoảng 80 - 90% bệnh nhân không có triệu chứng. Nếu có sẽ nổi hạch cổ, kín đáo, không đau, đường kính < 3 cm, sốt nhẹ, mệt mỏi, đổ mồ hôi ban đêm, đau nhức cơ, đau họng, đau bụng. Có thể bị viêm màng mạch - võng mạc (chorio-retinitis).
Theo BS Đạt, lâm sàng của bệnh viêm não do Toxoplasma gondii gồm đau đầu, chóng mặt, co giật, sốt; dấu hiệu thần kinh khu trú; bệnh nhân có đáp ứng với điều trị đặc hiệu có thể sử dụng để giúp cho chẩn đoán. Ở trẻ em, có thể là nhiễm Toxoplasma bẩm sinh hệ nhiễm Toxoplasma sau khi sinh. Triệu chứng sớm có sốt, đau họng, đau cơ, sưng hạch lympho, phát ban, gan lách to. Triệu chứng muộn gồm viêm não, sốt, lú lẫn, co giật và tổn thương võng mạc. Trên phim chụp cắt lớp não thấy tổn thương choán chỗ một hoặc nhiều ổ.
Phác đồ điều trị người lớn dùng Co-trimoxazole liều dựa trên TMP 10 mg/kg/ngày chia 2 lần/ngày trong 6 tuần. Điều trị duy trì Co-trimoxazole uống liều 960 mg/ngày. Ngừng khi người bệnh điều trị ARV có CD4 > 350 tế bào/mm3 ≥ 6 tháng.
Ở trẻ em nhiễm Toxoplasma bẩm sinh dùng phác đồ (1)Trimethoprim – sulfamethoxazole (TMP-SMX) dựa trên TMP, 10 mg/kg/ngày chia 2 lần. Phác đồ 2 là Pyrimethamine uống 2 mg/kg/lần 1 lần trong 2 ngày; sau đó 1 mg/kg/ngày 1 lần trong 2-6 tháng; tiếp theo 1 mg/kg/ngày (3 lần/tuần) + sulfadiazine uống 50 mg/kg chia 2 lần/ngày + axit folinic uống hoặc tiêm bắp 10 mg/lần cùng với mỗi liều Pyrimethamine.
Đối với trẻ em nhiễm Toxoplasma sau sinh dùng phác đồ (1)Trimethoprim – sulfamethoxazole (TMP-SMX) liều dựa trên TMP 10-15 mg/kg/ngày chia 2 lần hoặc phác đồ (2) Pyrimethamine uống 2 mg/kg/lần x 1 lần trong 3 ngày; sau đó giảm xuống 1 mg/kg x 1 lần/ngày + axit folinic uống 10-25 mg x 1 lần/ngày + sulfadiazin uống 25 mg/kg x 4 lần/ngày. Thời gian điều trị 6-8 tuần. Điều trị duy trì ở trẻ em dùng Trimethoprim – sulfamethoxazole liều dựa trên TMP 5 mg/kg/ngày. Ngừng điều trị cho trẻ trên 5 tuổi giống như người lớn. Không ngừng điều trị duy trì cho trẻ dưới 5 tuổi.
Văn Hanh