Rối loạn chức năng bàng quang do nguyên nhân thần kinh là tình trạng đi tiểu không tự chủ do tổn thương hệ thần kinh trung ương hoặc ngoại vi bao gồm các trung tâm kiểm soát quá trình đi tiểu.

Chấn thương tủy sống là nguyên nhân thường gặp trong nhóm các bệnh lý thần kinh thường để lại di chứng nặng nề. Một trong những vấn đề người thầy thuốc phải đối mặt và giải quyết đó là rối loạn chức năng bàng quang, trong đó có dạng bàng quang tăng hoạt. Hậu quả của bàng quang tăng hoạt do nguyên nhân thần kinh là làm tăng áp lực bàng quang dẫn đến biến chứng trào ngược bàng quang – niệu quản, nhiễm khuẩn tiết niệu tái diễn, ứ nước thận. Bệnh nhân không được chẩn đoán đúng để điều trị đúng sẽ tiến triển đến suy thận và tử vong trong bệnh cảnh suy thận giai đoạn cuối. Gần đây, bàng quang thần kinh mới được các thầy thuốc quan tâm trong đó có bàng quang tăng hoạt sau tổn thương tủy sống. Tuy nhiên, chẩn đoán xác định và phân loại đôi khi gặp không ít khó khăn nếu chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng của bệnh. Phân tích đặc điểm niệu động học là rất có giá trị trong thực hành lâm sàng giúp không chỉ chẩn đoán mà còn phân loại dạng rối loạn chức năng để định hướng điều trị, tiên lượng cho bệnh nhân. Tuy nhiên, việc ứng dụng niệu động học vào chẩn đoán bàng quang thần kinh còn mới mẻ ở Việt Nam.
Vừa qua, tác giả Đỗ Đào Vũ cùng cộng sự Bệnh viện Bạch Mai, Đại học Y Hà Nội tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Mô tả đặc điểm niệu động học bàng quang tăng hoạt động do nguyên nhân chấn thương tủy sống”.
Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu gồm: (1) Bệnh nhân tuổi từ 18 – 75; (2) Bệnh nhân bị chấn thương tủy sống sau giai đoạn sốc tủy; (3) Có bằng chứng về lâm sàng, niệu động học bàng quang tăng hoạt động.
Tiêu chuẩn loại trừ: (1) Bệnh nhân đã dùng thuốc hoặc can thiệp vào bàng quang làm ảnh hưởng đến hoạt động chức năng của bàng quang; (2) Các bệnh lý kết hợp: bệnh lý dễ gây chảy máu, bệnh lý hệ tiết niệu dưới (dị dạng, sỏi bàng quang, hẹp niệu đạo, phì đại lành tính tiền liệt tuyến, u bàng quang …); (3) Bệnh nhân không hợp tác được với nhân viên y tế: sa sút trí tuệ, rối loạn tâm thần …
BS Đỗ Đào Vũ cho biết, tiêu chuẩn chẩn đoán bàng quang thần kinh tăng hoạt bao gồm:
Tiêu chuẩn lâm sàng: Bệnh nhân bị chấn thương tủy sống sau giai đoạn sốc tủy; bệnh nhân bị tiểu gấp có hoặc không có tiểu són tiểu, thường kèm theo tiểu nhiều lần và tiểu đêm … không do nhiễm khuẩn tiết niệu hoặc nguyên nhân khác (theo Hiệp hội tiểu không tự chủ Quốc tế 2002; ICS – International Continence Society). Tiêu chuẩn niệu động học: có cơn co bóp không tự chủ trong giai đoạn chứa đầy với biên độ áp lực cơ bàng quang > 15 cmH2O.
Các chỉ số đánh giá: Tuổi, giới, thời gian bị bệnh, mức độ, vị trí chấn thương tủy sống dựa vào thang điểm Hiệp hội Tổn thương Tủy sống Mỹ (ASIA: American Spinal Cord Injury Association; Độ giãn nở bàng quang: (tăng khi trên 50ml/cmH2O, bình thường: 20-50ml/cmH2O; giảm: 10-20ml/cmH2O; kém: dưới 10ml/cmH2O); Khả năng chứa tối đa của bàng quang: (Khả năng chứa dưới 100ml, từ 100-200ml, từ 201-300ml, trên 300ml); Áp lực cơ bàng quang tối đa: (dưới 40 cmH2O, từ 40-80 cmH2O, từ 81-120 cmH2O, trên 120 cmH2O; Các chỉ số niệu động học khác: (Cảm giác bàng quang buồn tiểu gấp, bất đồng vận bàng quang – cơ thắt, số cơn co bóp bàng quang không tự chủ, nước tiểu tồn dư (ml), thể tích bàng quang khi có cơn co bóp không tự chủ đầu tiên (ml), thời gian cơn co bóp không tự chủ (giây).
Tác giả nghiên cứu báo cáo, có 68 bệnh nhân đủ điều kiện tham gia nghiên cứu; độ tuổi trung bình là 41,8 (năm). Tham gia bị chấn thương tủy đến khi thăm dò niệu động học 47,4 tuần. Tỷ lệ nam giới cao hơn so nữ giới 3,86 lần. Phân loại mức tổn thương theo ASIA, mức độ ASIA-A có 25 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ nhiều nhất; ASIA-B có 8 bệnh nhân; ASIA-C có 19 bệnh nhân và ASIA-D có 16 bệnh nhân.

BS Đỗ Đào Vũ phân tích, số cơn co bóp không tự chủ nhóm nghiên cứu là 5,85 + 3,64. Thể tích nước tiểu tồn dư trung bình là 115,79 + 67,89 ml. So với mức phân loại lượng tiểu tồn dư của Li (dưới 50 ml tồn dư ít; 50-100 ml tồn dư vừa; trên 100 ml tồn dư nhiều), thể tích tiểu tồn dư trong nghiên cứu của chúng tôi khá nhiều. Thể tích bàng quang khi có cơn co bóp không tự chủ đầu tiên và thời gian co bóp không tự chủ trung bình tương tự nghiên cứu của Chen và cộng sự là 57,91 + 29,75 ml. Thời gian cơn co bóp không tự chủ trung bình theo kết quả nghiên cứu của Tow và cộng sự là 322,7 + 189,9 giây, dài hơn thời gian trong nghiên cứu của chúng tôi là 150,15 + 106,82 giây. Khả năng chứa tối đa của bàng quang là một trong những chỉ số quan trọng nhất khi đánh giá kết quả thăm dò niệu động học. Sức chứa tối đa của bàng quang 60 bệnh nhân (88,24%) có sức chứa bàng quang tối đa dưới 300ml. Kết quả này tương tự nghiên cứu của Akkoc là 269,38 + 139,98 ml. Nghiên cứu chúng tôi có 8 bệnh nhân có sức chứa bàng quang tối đa trên 300ml. Nghiên cứu của J.Krebs cho kết quả tương tự thể tích bàng quang tối đa trước điều trị là 404ml. Áp lực cơ bàng quang tối đa cho thấy, chỉ có 6 bệnh nhân trong hai nhóm nghiên cứu có áp lực dưới 40cmH2O, áp lực được cho là ít gây nguy cơ làm tổn hại đến đường tiết niệu trên. Có 59 bệnh nhân (86,76%) có áp lực 40-120 cmH2O, đây là áp lực có nguy cơ làm tổn hại đến chức năng thận nếu không được phát hiện và điều trị, theo dõi hợp lý, lâu dài. Có tới 3 bệnh nhân (4,41%) có áp lực rất nguy hiểm trên 120cmH2O. Với chỉ số áp lực cao như vậy, những bệnh nhân này trên lâm sàng thường có những biểu hiện rỉ tiểu liên tục; đã có 1 bệnh nhân bị giãn đài bể thận, kèm theo sốt do nhiễm khuẩn ngược dòng đài – bể thận tái diễn nhiều lần. Độ giãn nở bàng quang có 32 bệnh nhân (47,06%) bàng quang có độ giãn nở kém, 21 bệnh nhân (30,88%) có độ giãn nở bàng quang giảm, chỉ có 15 bệnh nhân (22,06%) có độ giãn nở bàng quang bình thường, không bệnh nhân nào có độ giãn nở bàng quang tăng. Kết quả này cũng tương tự với nghiên cứu của Krebs và cộng sự có 11/35 bệnh nhân có độ giãn nở dưới 20ml/cmH2O. Trong nghiên cứu của Li và cộng sự, tỷ lệ này là 83%. Cảm giác buồn tiểu gấp là tình trạng đột nhiên buồn đi tiểu mà không thể kìm giữ được, khi thăm dò niệu động học nhóm nghiên cứu là 41 bệnh nhân (60,29%). Bất đồng vận bàng quang cơ thắt được định nghĩa là hiện tượng cơ bàng quang co bóp xảy ra cùng lúc với sự co bóp không tự chủ của niệu đạo và/hoặc cơ thắt vân niệu đạo. Tỷ lệ bệnh nhân có biểu hiện bất đồng vận bàng quang cơ thắt khi thăm dò niệu động học có 12 bệnh nhân (35,29%). Kết quả này tương tự nghiên cứu của Chen và cộng sự, bất đồng vận bàng quang cơ thắt có ở 14 bệnh nhân (36,84%). Bất đồng vận bàng quang cơ thắt còn là nguyên nhân cản trở quá trình làm trống bàng quang, tăng tỷ lệ bị nhiễm khuẩn tiết niệu tái diễn do tồn đọng lượng nước tiểu cũ, là nguồn gốc để vi khuẩn phát triển. Hiện tượng này làm tăng áp lực bàng quang, tăng nguy cơ trào ngược bàng quang – niệu quản dẫn đến tổn thương thận và suy thận.
Tác giả nghiên cứu có kết luận nghiên cứu, kết quả niệu động học cho thấy số cơn co bóp không tự chủ trong giai đoạn chứa đầy là 5,85 + 3,64 lần; Thể tích nước tiểu tồn dư trung bình 115,79 + 67,89 (ml). Thể tích bàng quang khi có cơn co bóp không tự chủ đầu tiên là 63,85 + 59,09 (ml); Thời gian cơn co bóp không tự chủ trung bình là 150,15 + 106,82 (giây). Phần nhiều bệnh nhân có sức chứa bàng quang tối đa dưới 300ml chiếm 85,29%. 94,12% bệnh nhân có áp lực cơ bàng quang ở mức cao trên 40cmH2O. Độ giãn nở bàng quang ở mức thấp dưới 20 ml/cmH2O chiếm tỷ lệ cao: 79,41%; Cảm giác buồn tiểu gấp 60,29%; bất đồng vận bàng quang cơ thắt là 36,76.
Hữu Lai