[Đăng ngày: 07/09/2018]
Theo BS Vũ Quốc Đạt, bộ môn truyền nhiễm Trường đại học Y Hà Nội, bệnh viêm phổi kẽ thâm nhiễm lympho bào (LIP) là một trong những bệnh phối hợp thường gặp ở người nhiễm HIV.

Các bệnh phổi kẽ gồm nhóm các rối loạn ngoại sinh có biểu hiện chung viêm và xơ vách liên phế nang, biểu thị phản ứng của phổi đối với các tổn thương do các nguyên nhân khác nhau gây ra. Có khoảng 180 bệnh tham gia vào các biểu hiện của bệnh phổi kẽ. Trong đa số bệnh nhân không tìm thấy nguyên nhân đặc hiệu nào. Một số trường hợp ghi nhận do thuốc và các loại bụi vô cơ và hữu cơ là các nguyên nhân nổi trội.

Sinh bệnh học của bệnh là do phổi bị tổn thương gây ra viêm vách liên phế nang (viêm phế nang). Viêm phế nang dai dẳng có thể dẫn đến xơ kẽ không hồi phục.

Các bệnh phổi kẽ có các biểu hiện giống nhau trên X quang, sinh lý, lâm sàng. Khó thở khi gắng sức và ho khan lúc đầu âm ỉ là các triệu chứng biểu hiện thường gặp. Khám thực thể đáng chú ý có tiếng ran nổ nhỏ hạt thì hít vào ở đáy phổi. Ngón tay thường dùi trống. Chức năng phổi có rối loạn thông khí hạn chế, giảm khả năng khuếch tán của carbon monoxid. Thiếu oxy máu, đặc biệt khi hoạt động thường thấy. Trên phim X quang lồng ngực có hình mờ lan tỏa, hình nốt, hình lưới hay các thâm nhiễm lưới - nốt có thể phát triển thành hình "phổi rỗ tổ ong", chụp X quang phổi cũng có khi thấy bình thường mặc dù sinh thiết phổi đã chứng tỏ có bệnh phổi kẽ. X quang thường và CT lồng ngực gần đây đã chứng tỏ có giá trị trong việc đánh giá bệnh phổi kẽ thâm nhiễm lan tỏa mạn tính, các nhà X quang có kinh nghiệm có thể có ý kiến chẩn đoán chính xác bệnh bụi phổi silic, bệnh bụi amian, xơ phổi không rõ nguyên nhân, bệnh ung thư mạch bạch huyết và bệnh sarcoid qua CT.

Nghiên cứu tiền sử, khám lâm sàng, X quang lồng ngực và xét nghiệm cận lâm sàng có thể giúp phát hiện nguyên nhân đặc hiệu của bệnh phổi kẻ. Đờm có ít hoặc không có. Xác định đờm để có thông tin cho chẩn đoán chỉ thường có ích khi đó là nhiễm khuẩn phổi hoặc nguyên nhân ác tính. Các kỹ thuật đánh giá nghi sự tiến triển của viêm phế nang được đặt ra nhằm cố gắng nhận định được bệnh nhân có thích hợp với điều trị chống viêm không. Các kỹ thuật đó là sinh thiết phổi, rửa phế nang - phế quản và chụp quét phổi bằng gallium - 67.

Sinh thiết xuyên phế quản dùng ống soi phế quản; sợi quang học dễ thực hiện và có tỷ lệ biến chứng thấp nhưng mẫu bệnh phẩm lấy ra ít nên thường có sai lạc do mẫu. Sinh thiết lồng ngực mở cho mẫu bệnh phẩm lớn nhưng tỷ lệ biến chứng cao. Các sinh thiết xuyên phế quản và rửa phế quản có thể đủ để cho phép chẩn đoán bệnh như bệnh sarcoid, bệnh mô bào X, viêm phổi do P. carinii, lao kê, nhiễm protein phế nang phổi, ung thư mạch bạch huyết. Mặt khác, các bệnh nhân bị suy sụp nhanh nên làm sinh thiết ngoại khoa xác định hơn là làm sinh thiết xuyên phế quản vì khả năng chẩn đoán ít. Chọn lựa giữa 2 loại này thường khó, bắt đầu nên làm sinh thiết xuyên phế quản cho hầu hết bệnh nhân vì tỷ lệ biến chứng của kỹ thuật này thấp. Nguy cơ biến chứng của sinh thiết xuyên phế quản gồm mọi nguy cơ của soi phế quản thông thường thêm vào đó còn có tràn khí màng phổi (khoảng 5%), chảy máu (1- 9%). Nếu rửa phế quản phế nang hay sinh thiết xuyên phế quản không chẩn đoán được phải dùng các chẩn đoán đặc hiệu sinh thiết phổi bằng phẫu thuật qua soi lồng ngực hay mở lồng ngực. Kết hợp video khi soi lồng ngực trở nên phổ thông hơn là mở lồng ngực để lấy mẫu bệnh phẩm làm sinh thiết.

Rửa phế quản phế nang giúp tốt trong chẩn đoán viêm phổi do P. carinii và với các bệnh nhân được chọn lọc có nhiễm khuẩn phổi do các vi sinh vật khác (trực khuẩn: lao, nấm, cytomegalovirus và các chủng Legionella). Kỹ thuật này đôi khi cũng dùng để chẩn đoán ung thư phổi, nhiễm protein phế nang phổi, bệnh mô bào X, bệnh phổi do beryl gây ra, viêm phổi do amiodaron hay chảy máu phổi ở bệnh nhân giảm tiểu cầu. Trong các nghiên cứu, tỷ lệ phần trăm lympho bào T rất cao trong dịch rửa phế quản phế nang gợi chẩn đoán đến bệnh sarcoid hoặc viêm phổi qúa mẫn, một tỷ lệ vượt trội bạch cầu trung tính, ái toan và đại thực bào gợi chẩn đoán xơ phổi không rõ nguyên nhân, chụp quét với Ga 67 không đặc hiệu và không có giá trị chẩn đoán ở bệnh nhân có bệnh phổi kẽ mặc dù nó có thể có một số vai trò trong xử lý cho bệnh nhân ngoại trú bị viêm phổi do P. carinii.

BS Đạt cho biết bệnh viêm phổi kẽ thâm nhiễm lympho bào (LIP) có triệu chứng ho khan, khó thở, ngón tay hình dùi trống, viêm tuyến mang tai, sưng hạch lympho, thiếu oxy máu. Xét nghiệm qua X-quang phổi thâm nhiễm nốt – lưới lan tỏa, giãn phế quản. 

Để điều trị bệnh LIP, sử dụng Prednisolon liều 1-2 mg/kg/ngày (nếu PaO2 < 85-90 mmHg); giảm liều sau khi có đáp ứng lâm sàng. Các triệu chứng thường tái xuất hiện sau khi ngừng prednisolon; không sử dụng prednisolon khi có bệnh khác kèm theo có chống chỉ định; bệnh ổn định khi điều trị ARV, điều trị triệu chứng thở oxy khi suy hô hấp; sử dụng kháng sinh nếu bội nhiễm.

Hồng Sơn
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 295

Số lượt truy cập: 9289001

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang