
Gây tê đám rối thần kinh cánh tay là phương pháp vô cảm dùng thuốc tê làm mất cảm giác và liệt vận động của vùng do đám rối thần kinh cánh tay chi phối, đó cũng là phương pháp vô cảm tốt cho phẫu thuật vùng vai, chi trên nhất là những bệnh nhân gặp khó khăn với gây mê toàn thân như có bệnh lý hô hấp, chức năng gan thận kém,…Gây tê đường gian cơ bậc thang đảm bảo gây tê tốt, phong bế rộng (xương đòn, vùng vai, toàn bộ cánh tay).
Tuy nhiên phương pháp gây tê theo mốc giải phẫu (mù hoặc gây tê bằng máy kích thích thần kinh cơ) ngoài biến chứng mạch máu, chọc vào đỉnh phổi và tủy sống, bác sĩ phải dùng thể tích thuốc tê đủ lớn để có thể phong bế các rễ thần kinh chi phối cho vùng phẫu thuật vì thế dễ dẫn tới tổn thương thần kinh, đặc biệt liệt thần kinh chi phối cơ hoành bên gây tê, một trong những biến chứng nghiêm trọng gây suy hô hấp. Theo Urmey WF và cộng sự (1991), liệt cơ hoành sau gây tê gian cơ bậc thang theo kỹ thuật chọc mù với tỷ lệ 100%, suy giảm chức năng hô hấp 25%, tác giả Sébastien Robaux, M.D và CS (2001) dùng 30 ml ropivacaine 0,75% khi gây tê đường gian cơ bậc thang thấy xuất hiện liệt cơ hoành và suy giảm hô hấp trầm trọng sau mổ. Theo Jack Vander Beek (2010), gây tê đường gian cơ bậc thang dưới siêu âm với 3 nhóm thể tích ropivacaine 30 ml, 20 ml và dưới 10 ml tác giả thấy tỷ lệ liệt cơ hoành hoàn toàn của 2 nhóm tương đương là 92%, 23%, riêng nhóm thể tích dưới 10 ml thì thấy xuất hiện liệt cơ hoành bán phần sau gây tê.
Từ tháng 2/2017 đến tháng 3/2018, nhóm tác giả nghiên cứu Lê Văn Chung cùng cộng sự Bệnh viện Quốc tế Chấn thương Chỉnh hình Sài Gòn thực hiện nghiên cứu tiến cứu can thiệp loạt ca bệnh báo cáo đề tài “Hiệu quả và an toàn của Ropivacaine thể tích thấp trong gây tê đám rối cánh tay đường gian cơ bậc thang dưới siêu âm cho phẫu thuật xương đòn”.
Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá hiệu quả gây tê đám rối thần kinh cánh tay đường gian cơ bậc thang bằng ropivacaine thể tích thấp dưới hướng dẫn của siêu âm.
Đánh giá các tác dụng không mong muốn của phương pháp này.
Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân phẫu thuật xương đòn tuổi từ 16 – 70 tuổi; Phân loại ASA I, II.
Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu
- Bệnh nhân không đồng ý gây tê.
- Bệnh nhân có các chống chỉ định gây tê: Dị ứng thuốc tê, liệt cơ hoành đối bên, bệnh nhân COPD, rối loạn đông máu, tràn dịch màng phổi đối bên, nhiễm khuẩn, sẹo co kéo biến dạng vùng gây tê, tổn thương đám rối thần kinh bên gây tê...
- Bệnh nhân có vấn đề về nhận thức và rối loạn tâm thần, bệnh nhân lạm dụng oipoid.
- Bệnh nhân mang thai và cho con bú.
- Bệnh nhân có BMI > 35.

BS Lê Văn Chung báo cáo phân tích, có 60 bệnh nhân nam tham gia nghiên cứu chiếm tỷ lệ 92%, tuổi trung bình 36 ± 12, ASA 1,2, chỉ số BMI trung bình 22 được sử dụng thể tích 7 ml ropivacaine dưới hướng dẫn siêu âm trong gây tê đám rối cánh tay đường gian cơ bậc thang cho phẫu thuật xương đòn từ tháng 2 năm 2017 đến tháng 3 năm 2018.
Về hiệu quả của kỹ thuật, tác giả nghiên cứu cho biết, sử dụng máy siêu âm cho ta thực hiện thuận lợi và chính xác kỹ thuật gây tê. Chính vì thế thời gian để thuốc tê phát huy tác dụng là rất ngắn, đặc biệt nếu tiêm 3ml trực tiếp vào bao giữa rễ C5,C6 bệnh nhân đã thấy mất cảm giác đau trung bình 2,1 phút. Thời gian phục hồi hoàn toàn cảm giác và vận động sau mổ trung bình là 305 phút và 198 phút( bảng3), kết quả nghiên cứu này cho ta thấy thời gian phục hồi cám giác và vận động sớm sau gây tê( sau mổ) làm cho bệnh nhân rất hài lòng.
Khi rạch da bệnh nhân không đau với thang điểm VAS < 3 chiếm tỷ lệ cao trên 98%, chỉ khoảng 2% khi rạch da bệnh nhân hơi đau cho ngưng phẫu thuật chờ thêm 5 phút, lúc này tiếp tục phẫu thuật bệnh nhân không có cảm giác đau. Tuy nhiên, theo thang điểm VAS < 4, ở thì rạch da đạt tỷ lệ 100% ( bảng 2). Cũng theo kết quả bảng 2 ta thấy các thì phẫu thuật bộc lộ xương, kết hợp xương cũng như thì đóng vết mổ bệnh nhân hoàn toàn không đau (VAS<3) đạt tỷ lệ 100%.
Tác giả nghiên cứu cho biết đã sử dụng thể tích thuốc tê thấp và có siêu âm hướng dẫn, tuy vậy vẫn gặp biến chứng liệt cơ hoành, mặc dù chỉ là liệt bán phần, đây là một trong những biến chứng nguy hiểm gây suy giảm hô hấp, ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh, nhất là người lớn tuổi và/hoặc có bệnh về hô hấp trước đó.
Tuy nhiên trường hợp bị liệt cơ hoành bán phần sau gây tê trong nghiên cứu này không gây suy hô hấp trầm trọng, mặc dù sau mổ hình ảnh liệt cơ hoành trên x.quang khá rõ.
Nhờ sử dụng thể tích thuốc tê thấp và có siêu âm hướng dẫn do vậy trong nghiên cứu này không có trường hợp nào tổn thương thần kinh, vì thể tích thuốc tê sử dụng rất thấp không gây chèn ép dẫn đến tổn thương, hơn nữa đầu kim chỉ dừng lại ở lớp vỏ ngoài của thân sợi trục thần kinh, đây cũng là lợi điểm của máy siêu âm dẫn đường trong kỹ thuật gây tê vùng.
BS Lê Văn Chung kết luận, thực hiện kỹ thuật gây tê đám rối đường gian cơ bậc thang dưới hướng dẫn siêu âm với liều thấp thuốc tê ropivacaine có hiệu quả vô cảm tốt cho phẫu thuật xương đòn, ít gây tác dụng phụ, nhất là liệt cơ hoành sau kỹ thuật. Sau mổ bệnh nhân rất hài lòng. Tác giả có kiến nghị cần khuyến cáo sử dụng máy siêu âm cho kỹ thuật gây tê vùng. Giảm thể tích thuốc tê thấp hơn nữa trong kỹ thuật gây tê gian cơ bậc thang nhằm giảm thiểu biến chứng.
Nghi Anh