[Đăng ngày: 10/10/2018]
Tại Bệnh viện Phụ sản Đà Nẵng, trong thời gian từ tháng 8/2017 đến tháng 4/2018, tổng số phụ nữ đến khám vú đồng ý quét khối vú 3D tại Bệnh viện là 1.236 trường hợp. Trong đó có 912 phụ nữ được thực hiện siêu âm 2D trước khi thực hiện quét vú 3D. Kỹ thuật quét vú 3D được thực hiện bởi 1 kỹ thuật viên đã qua đào tạo chuẩn, kết quả hình ảnh được đọc bởi bác sĩ có nhiều năm kinh nghiệm trong chẩn đoán hình ảnh vú. Các tổn thương được phát hiện sẽ dựa vào sự phối hợp giữa hình ảnh 2D, 3D, siêu âm đàn hồi mô để phân loại theo hệ thống Bi-RADS. Đối với Bi-RADS 1,2 nhóm nghiên cứu tiếp tục theo dõi và hướng dẫn tái khám định kỳ. Tổn thương từ Bi-RADS 3 trở lên sẽ được bắt đầu tiến hành FNA, mổ sinh thiết để cho ra chẩn đoán cuối cùng.

BS. Như Quỳnh báo cáo, trong 1.236 đối tượng nghiên cứu được thực hiện quét khối vú 3D có độ tuổi trung bình là 37,7 (từ 24 đến 61 tuổi) trong đó 28,07% trường hợp có người thân là chị, em, mẹ, dì ruột bị ung thư vú hoặc buồng trứng. Bệnh nhân thường đến khám với lý do kiểm tra sức khỏe, còn lại phần lớn là triệu chứng đau tức, cương vú (29,04%). Qua đó, nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra tổn thương vú ở 749/1236 (60,59%) bệnh nhân, không phát hiện ra tổn thương vú ở 487/1236 (39,41%) bệnh nhân còn lại.
Trong 749 tổn thương vú phát hiện được trên quét vú 3D thì có 19 tổn thương không được phát hiện trên siêu âm 2D trước đó. Các tổn thương bỏ sót hầu hết có kích thước rất nhỏ hoặc là nằm ở các vị trí khó khảo sát ở những phụ nữ có cỡ vú to. Điều này cũng được ghi nhận ở các nghiên cứu hiện tại khi cho rằng hệ thống ABVS khó bỏ sót tổn thương đặc biệt là những tổn thương gần ngoại vi hoặc kích thước nhỏ. Ngoài ra người ta không thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về số lượng tổn thương được phát hiện trên hệ thống ABVS giữa hai người đọc, điều này chứng tỏ ABVS không phụ thuộc vào bác sĩ. Các tổn thương được đánh giá và phân loại theo hệ thống Bi-RADS, một số trường hợp tiếp tục được chụp nhũ ảnh, chọc FNA, mổ sinh thiết. Kết quả trong 749 tổn thương vú, có 736 tổn thương lành tính (nhân xơ vú, nang vú…) và 13 tổn thương ác tính.

BS. Như Quỳnh cho biết, tổn thương nhỏ nhất có kích thước là 1,5mm, lớn nhất là 45mm, kích thước trung bình của tổn thương phát hiện được trên ABVS là 8,3 + 1,7mm. Trong đó có trên 52,33% tổn thương có kích thước từ 1-5mm. Qua hệ thống ABVS, nhóm nghiên cứu cho rằng có thể phát hiện được các tổn thương có kích thước rất nhỏ từ vài mm.

Các tổn thương được đánh giá và phân loại theo hệ thống Bi-RADS, trong đó có 31 trường hợp này đều được nhóm nghiên cứu thực hiện thêm kỹ thuật siêu âm đàn hồi mô để đánh giá lại đặc điểm tổn thương (độ cứng mềm của mô), từ đó có thể phân độ lại Bi-RADS. Trong 31 trường hợp Bi-RADS 3 sau khi làm siêu âm đàn hồi mô thì có 23 trường hợp được chuyển về Bi-RADS 2, nhờ vậy giảm tỷ lệ FNA không cần thiết. Bên cạnh đó đối với các tổn thương có chỉ định thực hiện FNA, siêu âm đàn hồi mô có thể giúp định hướng kim chọc vào đúng vùng nghi ngờ nhất của tổn thương từ đó có thể cho ra kết quả chính xác nhất.

Trong 13 trường hợp ung thư vú, có 9 trường hợp có dấu hiệu co kéo mô tuyến vú xung quanh khối u trên mặt cắt coronal. Chỉ có 4 trường hợp là nhóm nghiên cứu không thấy dấu hiệu có kéo. BS. Như Quỳnh nhận xét, đây cũng là ưu điểm phù hợp với một vài nghiên cứu trong và ngoài nươc. Việc hình ảnh được dựng theo mặt cắt coronal giúp mô tả chính xác đường đi của ống tuyến từ ngoại vi đến núm vú. Các khối ung thư vú thường ở dạng tổn thương  hình sao là do có phản ứng mô làm co kéo mô tuyến xung quanh về khối u và phá hủy các mặt phẳng mô mềm song song bình thường.

Theo các chuyên gia ung thư, các phương tiện tầm soát ung thư vú hiện nay là siêu âm vú, chụp nhũ ảnh; chụp cộng hưởng từ vú.

Đối với siêu âm vú, siêu âm có khả năng đánh giá mô vú được mô tả cách đây gần 60 năm. Với ưu điểm đơn giản, dễ thực hiện, rẻ tiền nên siêu âm vú hiện là phương tiện đầu tay giúp phát hiện và mô tả các tổn thương vú.  Nhiều nghiên cứu đa trung tâm cho rằng siêu âm vú phát hiện nhiều ung thư vú giai đoạn sớm, hơn là chỉ sử dụng đơn độc chụp nhũ ảnh. Tuy nhiên siêu âm đầu dò cầm tay có một số hạn chế như tốn thời gian để kiểm tra kỹ toàn bộ vú, tỷ lệ âm tính giả cao và phụ thuộc vào người thực hiện. Trải qua thời gian, siêu âm vú đã có nhiều công nghệ tiến bộ như doppler màu, siêu âm quét khối vú 3D, siêu âm đàn hồi mô. Đặc biệt siêu âm quét khối vú 3D và siêu âm đàn hồi mô đang trở nên là phương pháp hiệu quả trong phát hiện tổn thương vú.

Siêu âm quét khối vú tự động 3D (Automated Breast Volume Scanner _ ABVS). Siêu âm vú tự động (Automated Breast Ultrasound – ABUS) đã được giới thiệu cách đây hơn 1 thập kỷ, với chất lượng hình ảnh ban đầu chưa đủ tốt để cho ra kết quả. Tuy nhiên 5 năm sau, những thế hệ mới của ABUS là ABVS – hệ thống siêu âm quét khối vú 3D tự động – sử dụng những đầu dò tần số cao đã cải tiến chất lượng hình ảnh lên nhiều lần. Đến tháng 9/2012 FDA đã đồng ý cho việc sử dụng hệ thống ABVS trong việc tầm soát ung thư vú ở những đối tượng có mô tuyến vú dày, tuyến vú đặc và có kết quả chụp nhũ ảnh âm tính.

Ngày nay với sự phát triển của công nghệ chẩn đoán hình ảnh, sự ra đời của hệ thống quét khối vú 3D tự động tích hợp với hệ thống siêu âm đo độ đàn hồi mô ARFI – ACUSON S2000 ABVS, dường như tỏ ra hiệu quả với vai trò như là một công cụ hỗ trợ trong tầm soát chẩn đoán sớm ung thư vú.

Đối với phương pháp siêu âm đàn hồi mô ARFI, đây là một kỹ thuật giúp phân biệt tổn thương lành hay ác tính thông qua xác định độ cứng mềm của mô dưới một áp lực đè nén nhất định. Với nguyên lý hầu hết các tổn thương ung thư vú thường có độ cứng hơn tổn thương lành tính. Kết quả cứng hay mềm sẽ được thể hiện thông qua thang xám hoặc bản đồ màu hoặc vận tốc biến dạng của tổn thương. Việc phối hợp giữa đặc điểm siêu âm 2D và siêu âm đàn hồi mô sẽ giúp tăng hay giảm phân độ Bl-RADS tùy theo tổn thương. Bên cạnh đó còn giúp xác định vị trí nghi ngờ nhất của tổn thương từ đó định hướng chọc kim sinh thiết để có kết quả chính xác nhất.

Mai Trang

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 266

Số lượt truy cập: 9288880

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang