Mãn kinh là tình trạng không hành kinh vĩnh viễn và không còn khả năng sinh sản tự nhiên, là một hiện tượng sinh lý bình thường do buồng trứng suy tàn, các hormon sinh dục không còn được chế tiết dẫn đến những biến đổi và rối loạn tạm thời một số chức năng tâm sinh lý ở phụ nữ mãn kinh.

Bước vào tuổi mãn kinh, phụ nữ có nguy cơ cao đối với bệnh tật do tình trạng thiếu hụt estrogen (là nguyên nhân chính) và gánh nặng của tuổi tác cũng như môi trường sống và điều kiện xã hội. Bên cạnh những rối loạn vận mạch và tâm sinh lý như bốc hỏa, vã mồ hôi đêm, rối loạn giấc ngủ, dễ cáu gắt, hay buồn chán… thì những triệu chứng rối loạn niệu dục đã làm cho người phụ nữ mãn kinh dễ bị viêm âm đạo, đau khi giao hợp, giảm ham muốn tình dục, són tiểu, tiểu rắt, tiểu đêm… Những rối loạn này đã làm giảm chất lượng sống của phụ nữ mãn kinh và hiệu quả lao động của xã hội bị ảnh hưởng.
Với tuổi thọ trung bình của phụ nữ hiện nay là 76 tuổi và tuổi mãn kinh trung bình là 51. Ở Việt Nam, với quy mô dân số 90,7 triệu người vào năm 2014, một tỷ lệ không nhỏ phụ nữ đã và đang vào mãn kinh cần được chăm sóc sức khỏe.
Theo khuyến cáo của Hiệp hội Mãn kinh Quốc tế, cửa sổ thời gian tốt nhất để điều trị những triệu chứng rối loạn chức năng ở phụ nữ mãn kinh là thời gian mãn kinh dưới 10 năm và phụ nữ mãn kinh dưới 60 tuổi, bởi vì ở lứa tuổi này nếu được điều trị sẽ đem lại kết quả và nhiều lợi ích hơn và sẽ làm giảm nguy cơ bệnh tật so với nhóm phụ nữ mãn kinh trên 60 tuổi.
Từ tháng 6/2014 đến tháng 1/2016, tác giả Nguyễn Đình Phương Thảo cùng cộng sự trường Đại học Kỹ thuật Y-Dược Đà Nẵng và Đại học Y Dược Huế thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang và nghiên cứu can thiệp so sánh trước sau, báo cáo đề tài “Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ estradiol với rối loạn niệu dục ở phụ nữ mãn kinh và hiệu quả điều trị”. Nghiên cứu nhằm tìm hiểu mối liên quan nồng độ estradiol và rối loạn niệu dục phụ nữ mãn kinh; đánh giá hiệu quả điều trị rối loạn niệu dục phụ nữ mãn kinh.
Đối tượng nghiên cứu là những phụ nữ mãn kinh có rối loạn chức năng sau khi đã được phỏng vấn và thăm khám tại các Trạm Y tế trong thành phố Huế, được mời đến khám tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế.
Tiêu chuẩn chọn đối tượng: Những phụ nữ đã mãn kinh tự nhiên thật sự, không có kinh trở lại sau 1 năm, tuổi không quá 65 tuổi, không sử dụng liệu pháp nội tiết, có triệu chứng rối loạn vận mạch hoặc có triệu chứng rối loạn chức năng chung nhưng trong đó triệu chứng vận mạch là triệu chứng nổi trội, đồng ý tham gia nghiên cứu và tình trạng sức khỏe đủ điều kiện để chọn giải pháp can thiệp.
Tiêu chuẩn loại trừ: Những phụ nữ mắc bệnh ác tính, tâm thần. Những phụ nữ đã phẫu thuật cắt tủ cung và hai phần phụ trước và sau mãn kinh. Phụ nữ không còn minh mẫn để có thể trả lời chính xác các câu hỏi được phỏng vấn, những phụ nữ mắc bệnh nội khoa mãn tính như: Đái tháo đường, suy tuyến yên, suy tuyến thượng thận, cao huyết áp. Những phụ nữ có chống chỉ định dùng thuốc nội tiết, những phụ nữ đang dùng liệu pháp nội tiết điều trị và phụ nữ từ chối tham gia vào mẫu nghiên cứu.

Tác giả nghiên cứu cho biết với cách chọn mẫu cụm ngẫu nhiên phân bố có tỷ lệ 1/5 với tổng số phụ nữ mãn kinh. Tác giả đã chọn được 1110 phụ nữ mãn kinh đang sinh sống tại các phường trong thành phố Huế. Nghiên cứu được tiến hành thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp các đối tượng, sau đó xác định các rối loạn chức năng của phụ nữ mãn kinh. Các đối tượng nghiên cứu được lấy máu tĩnh mạch để xét nghiệm nồng độ estradiol huyết thanh và xét nghiệm Pap/smear để sàng lọc ung thư cổ tử cung. Dựa vào mối liên quan giữa nồng độ estradiol với các rối loạn chức năng ở phụ nữ mãn kinh, nhóm nghiên cứu chọn được 415 phụ nữ mãn kinh trên một năm có những rối loạn chức năng và có nồng độ estradiol giảm. Sau đó các đối tượng được tiến hành khám phụ khoa và thực hiện một số xét nghiệm như: Đo điện tâm đồ, chụp nhũ ảnh, siêu âm vú, siêu âm kiểm tra độ dày nội mạc tử cung. Những đối tượng không mắc bệnh lý về tim mạch, u vú hoặc khối u phụ khoa cũng như không có hiện tượng dày nội mạc tử cung, có triệu chứng rối loạn niệu dục hoặc có triệu chứng rối loạn chức năng chung nhưng trong đó triệu chứng rối loạn niệu dục là nổi trội sẽ được chọn điều trị estriol 1mg (cụ thể là Ovestin), uống liều 2mg/ngày trên thời gian 30 ngày. Nghiên cứu chọn được 157 trường hợp để điều trị. Sau kết thúc điều trị 2 tháng, tiến hành đánh giá lại.
Bác sĩ Phương Thảo có kết luận nghiên cứu, có mối tương quan nghịch giữa nồng độ estradiol và các triệu chứng rối loạn niệu dục với hệ số tương quan mạnh (r=0,70). Đối với hiệu quả của estriol trong điều trị rối loạn niệu dục ở phụ nữ mãn kinh: Các triệu chứng rối loạn niệu dục cải thiện đáng kể sau can thiệp, thể hiện rõ nhất là các triệu chứng rối loạn tiểu tiện; Điểm trung bình của chất lượng sống tăng 9,47 và chức năng tình dục tăng 11,36 điểm so với trước điều trị.
Mai Trang