Theo BS Vũ Quốc Đạt, bộ môn Truyền nhiễm Trường Đại học Y Hà Nội, bệnh do Mycobacterium avium complex (MAC) là một trong những bệnh phối hợp thường gặp ở người nhiễm HIV.
Khoảng 10% trường hợp nhiễm khuẩn do mycobacteria trên lâm sàng là do nhóm không điển hình mà không do vi khuẩn lao điển hình (Mycobacterium tuberculosis). Loại này hay gặp nhất ở người nhiễm HIV giai đoạn tiến triển. Nhóm này có những đặc điểm sinh học riêng, có mặt trong môi trường ở khắp mọi nơi, không lây từ người qua người và thường thấy kháng thuốc chống lao.

Mycobacterium avium có thể cư trú mà không gây triệu chứng, hoặc gây ra nhiều dạng bệnh khác nhau, từ tổn thương dạng đồng xu đến viêm phế quản ở người có bệnh phổi mạn tính, và cả bệnh phổi xâm lấn, thường là dạng hang ở bệnh nhân có bệnh phổi từ trước. Loại vi khuẩn này là nguyên nhân phổ biến của thể lan toả ở người nhiễm HIV giai đoạn muộn, khi tế bào CD4 < 50 - 100/mm3. Triệu chứng chủ yếu là sốt dai dẳng và sút cân. Vi khuẩn có thể cấy được từ nhiều nơi trong cơ thể như máu, gan, hạch, tủy xương. Cấy máu thường hay được dùng nhất để chẩn đoán và có độ nhậy cao tới 98%.
Đối với viêm hạch (bệnh tràng nhạc), đa số ở người lớn là do vi khuẩn lao và có thể là một biểu hiện của bệnh lan toả. Ở trẻ em, đa số viêm hạch là do các chủng không điển hình, trong đó hay gặp nhất là M., scrofulaceum và MAC, còn các vi khuẩn khác ít gặp hơn. Khác với bệnh do vi khuẩn lao điển hình cần điều trị 9 tháng bằng thuốc, ở đây có thể điều trị bằng cắt bỏ hạch mà không cần dùng thuốc chống lao.
Viêm da và mô mềm như áp xe, viêm khớp, viêm tủy xương có thể do vi khuẩn đến trực tiếp hoặc qua đường máu hay khi phẫu thuật. M. chelonei và M.fortuitum là hay gặp nhất. Đa số gặp ở đầu chi, lúc đầu dưới dạng cục rồi thành áp xe và vết loét. Vi khuẩn thường kháng với các thuốc chống lao thông dụng nhưng lại có thể nhậy với các loại khác như erythromycin, doxycyclin, amikacin, cefoxitin, sulfamid, imipenem và ciprofloxacin. Thường phối hợp thuốc với cắt lọc. Lúc đầu dùng đường tiêm vài tuần rồi chuyển sang uống các thuốc mà vi khuẩn không kháng. Thời gian điều trị cần kéo dài nhiều tháng kể từ khi tổn thương đã lành.

Bệnh do MAC có triệu chứng sốt kéo dài hoặc tái phát; người bệnh sút cân; mệt mỏi, thiếu máu, gan, lách, hạch to. Bệnh cần chẩn đoán phân biệt với bệnh lao. Chẩn đoán bệnh do MAC dựa vào phân lập được MAC trong máu hoặc ở vị trí khác nhưng thường khó thực hiện. BS Đạt lưu ý, cần cân nhắc chẩn đoán MAC nếu người bệnh không đáp ứng với điều trị lao sau 2-4 tuần.
Đối với điều trị bệnh do MAC ở người lớn, phác đồ ưu tiên là Clarithromycin uống 500 mg/lần x 2 lần/ngày + Ethambutol uống 15 mg/kg/ngày. Phác đồ thay thế là azithromycin uống 500 mg/ngày + Ethambutol uống 15 mg/kg/ngày. Đối với người có suy giảm miễn dịch nặng (CD4 < 50 tế bào/mm3) thêm Rifabutin 300 mg uống hàng ngày; hoặc Fluoquinolone như levofloxacin 500 mg uống hàng ngày; hoặc moxifilaxacin 400 mg uống hàng ngày. Ngừng điều trị MAC khi đã điều trị ít nhất 12 tháng; không còn biểu hiện lâm sàng của MAC; điều trị ARV có số lượng tế bào CD4 tăng hơn 100 tế bào/mm3 trên 6 tháng.
Đối với điều trị MAC ở trẻ em, sử dụng Clarithromycin 7,5 – 15 mg/kg x 2 lần trong ngày (tối đa liều 500 mg); hoặc azithromycin 10-12 mg/kg (tối đa 500 mg/ngày) uống một lần/ngày phối hợp với ethambutol 15-25 mg/kg uống một lần/ngày (tối đa 1000 mg). Ngừng điều trị đối với trẻ trên 2 tuổi thì như người lớn, không ngừng điều trị trẻ nhỏ hơn 2 tuổi.
Huy Hoàng