
Phì đại tuyến tiền liệt lành tính (PĐTTLLT) là sự tăng sản của các thành phần tế bào tuyến tiền liệt, bao gồm tế bào biểu mô và mô đệm của tuyến. Tỷ lệ mắc bệnh tăng dần theo tuổi và có xu hướng cao hơn theo sự cải thiện về tuổi thọ. Tại Mỹ, nam giới trên 60 tuổi có tỉ lệ mắc PĐTTLLT là 50%, ở tuổi 85 con số này tăng lên 90%. Có 75% nam giới trên 70 tuổi có ít nhất một triệu chứng của PĐTTLLT. Chi phí điều trị bệnh và các triệu chứng liên quan ước tính mỗi năm lên tới 4 tỉ đô la. Tại Việt Nam theo điều tra của Trần Đức Hòe tỉ lệ mắc ở nam giới tuổi 50 là 50% và 80 tuổi là trên 95%.
Có nhiều phương pháp điều trị PĐTTLLT nhưng cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt qua đường niệu đạo vẫn được coi là tiêu chuẩn vàng trong điều trị và được áp dụng phổ biến nhất. Tại Việt Nam phương pháp này được áp dụng từ năm 1981 tại Bệnh viện Việt Đức Hà Nội và hiện nay đã trở nên phổ biến. Mặc dù đây là phẫu thuật ít xâm lấn nhưng đây là phương pháp luôn tiềm ẩn những rủi ro liên quan đến chảy máu và hội chứng hấp thụ dịch rửa, đặc biệt ở bệnh nhân già có hạn chế về chức năng tim mạch và hô hấp. Chảy máu dẫn đến phải truyền máu đã giảm đáng kể từ 20% ở giai đoạn mới phát triển kỹ thuật xuống còn 2,9% trong một tổng kết gần đây nhờ các tiến bộ về phương tiện và kỹ thuật mổ, tuy nhiên mất máu mức độ trung bình vẫn khá phổ biến và có thể ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Đông máu cũng thay đổi trong cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt, do thromboplastin của tuyến tiền liệt đi vào cơ thể kích hoạt đông máu rải rác nội mạch cùng với hiện tượng mất và pha loãng các yếu tố đông máu liên quan đến chảy máu và hấp thu dịch rửa. Bên cạnh vấn đề chảy máu, sau cắt đốt nội soi tỉ lệ huyết khối tĩnh mạch sâu được thông báo là 8%. Có thể thấy hai biến chứng trên sẽ là nguy cơ rất lớn đối với người cao tuổi, là những đối tượng chính của PĐTTLLT cũng như cắt đốt nội soi.
Từ tháng 12/2015 đến tháng 10/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Đinh Thị Nguyệt cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội thực hiện nghiên cứu mô tả, so sánh trước-sau báo cáo đề tài “Mất máu và thay đổi một số xét nghiệm đông máu sau cắt đốt nội soi phì đại lành tính tuyến tiền liệt”

Đối tượng nghiên cứu có 50 bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt qua đường niệu đạo dưới gây tê tủy sống, đồng ý tham gia nghiên cứu. Các xét nghiệm đông máu cơ bản, tổng phân tích tế bào máu ngay trước mổ trong giới hạn bình thường. Những trường hợp chống chỉ định gây tê tủy sống, thiếu máu nặng, rối loạn đông máu hoặc đang sử dụng các thuốc tăng hoặc giảm đông trước mổ được loại khỏi nghiên cứu.
Các bước trong nghiên cứu được tiến hành: trước mổ khám tiền mê như thường quy, giải thích với bệnh nhân hoặc người nhà về nghiên cứu và ký giấy xác nhận đồng ý tham gia.
- Trong phòng mổ: Tiến hành lắp đặt các theo dõi cơ bản (điện tim, huyết áp, bão hòa ôxy SpO2, nhiệt độ ngoại vi đo tại nách), đặt đường tĩnh mạch và lấy máu xét nghiệm, sau đó gây tê tủy sống ở vị trí L3-4 bằng kim 25 G, sử dụng 6 mg ropivacaine (Anaropin) phối hợp với 0,03 mg fentanyl. Truyền tĩnh mạch Ringerfundin được làm ấm với số lượng phụ thuộc huyết áp, mất máu và thời gian mổ. Các bệnh nhân đều dùng 500 mg transamin. Can dịch rửa bàng quang sorbitol 3% được treo cao 60 cm và dẫn lưu theo nguyên tắc siphon.
- Sau mổ: Bệnh nhân được theo dõi và làm xét nghiệm huyết học và đông máu ngay khi ra phòng hồi tỉnh và 24 giờ sau mổ. Các số liệu thu thập được ghi lại trong mẫu bệnh án nghiên cứu.
Tác giả nghiên cứu cho biết các chỉ số nghiên cứu gồm đánh giá và ghi nhận các chỉ số chung, bao gồm; tuổi, bệnh lý kèm theo như (tăng huyết áp, mạch vành, suy tim, COPD, hen…) được bác sĩ chuyên khoa xác nhận, điểm IPSS (International Prostate Symptom Score), trọng lượng tuyến tiền liệt đánh giá bằng siêu âm qua thành bụng hoặc siêu âm qua trực tràng (g). Thời gian phẫu thuật tính từ khi đặt máy nội soi đến khi đặt sonde Foley truyền rửa bàng quang. Dấu hiệu sinh tồn: mạch, nhiệt độ, huyết áp ngay khi vào phòng mổ, trong phẫu thuật (sau khi bắt đầu 30 phút) và sau phẫu thuật.
- Chảy máu trong mổ được xác định khi quan sát thấy chảy máu từ vị trí mổ, khó khăn quan sát do máu mất thời gian cầm máu và màu sắc dịch rửa. Đánh giá mức độ mất máu cấp dựa vào các dấu hiệu lâm sàng.
BS Đinh Thị Nguyệt có kết luận, qua nghiên cứu 50 bệnh nhân được phẫu thuật cắt đốt nội soi PĐTLTLT qua đường niệu đạo cho thấy tình trạng giảm đáng kể các chỉ số trong công thức máu và đông máu cơ bản trong 24 giờ sau mổ. Do đó, cần chú ý áp dụng các biện pháp ngăn ngừa, hạn chế các thay đổi này nhất là ở bệnh nhân già yếu có các bệnh lý kèm theo khác.
Phúc Nguyên