[Đăng ngày: 28/12/2017]
Xơ hóa màng nhĩ (xơ nhĩ màng nhĩ, myringosclerosis) là quá trình xơ và vôi hóa màng nhĩ, được biểu hiện bởi những mảng trắng hay những hạt vôi hóa ở lớp sợi màng nhĩ.

Theo các chuyên gia tai - mũi - họng, hiện tượng này là kết quả của sự thoái hóa hyaline, canxi-phosphate hóa bất thường xảy ra chủ yếu ở lớp sợi và lớp dưới niêm mạc. Nguyên nhân của xơ hóa màng nhĩ thường gặp là yếu tố tại chỗ như viêm tai giữa, phẫu thuật tai giữa, đặt ống thông khí, trích rạch màng nhĩ, chấn thương tai giữa gây chảy máu hoặc do bệnh tự miễn. Có những yếu tố liên quan gần hoặc xa, từ rối loạn chức năng vòi, sự viêm nhiễm ở vùng mũi họng, viêm mũi xoang dị ứng hay mũ mạn tính, biểu hiện bệnh lý mũi họng do trào ngược.

Từ tháng 9/2015 đến tháng 9/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Thị Bích Đào cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội thực hiện nghiên cứu tiến cứu mô tả từng ca bệnh báo cáo đề tài “Tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ gây xơ hóa màng nhĩ”. Đối tượng nghiên cứu gồm 69 bệnh nhân; 97 tai có tổn thương xơ hóa ở màng nhĩ; không phân biệt tuổi, giới, nghề nghiệp. Tiêu chuẩn chọn lựa là màng nhĩ kín có tổn thương vôi, xơ hóa; tiêu chuẩn loại trừ là trường hợp ống tai ngoài bị viêm hoặc chít hẹp; đã được phẫu thuật khoét chũm tiệt căn.

Tác giả nghiên cứu phân tích đặc điểm chung, hình thái lâm sàng, thính lực và nhĩ lượng. Chỉ số triệu chứng trào ngược (Reflux System Index- RSI). Tổng điểm là 45; mỗi triệu chứng cho điểm từ 0 (không có triệu chứng đến 5 ( mức độ rất nặng). Khi RSI trên 13 điểm được cho là bất thường. Các chỉ số RSI gồm (1) khàn tiếng hoặc có thay đổi về giọng nói, (2) đằng hắng, (3) nhiều dịch nhầy họng, (4) khó khăn khi nuốt thức ăn, dịch, thuốc, (5) ho sau khi ăn hoặc sau khi nằm, (6) cảm giác khó thở hoặc cơn tức thở, (7) ho khó chịu, (8) cảm giác có dị vật trong họng, (9) nóng rát ngực, ợ nóng, ợ chua.

Bảng điểm trào ngược qua hình ảnh nội soi gồm có tăng sinh tổ chức lympho đáy lưỡi; có dịch nhiều trong thanh quản, sụn phêu nề đỏ; phì đại mép sau; phù nề dây thanh; phù nề thanh quản lan tỏa, rãnh dây thanh giả; xóa buồng thanh thất một phần hay toàn bộ.

BS.Đào phân tích báo cáo, trong 69 bệnh nhân có 47 bệnh nhân có tiền sử viêm tai giữa, ở 56/97 tai; bệnh nhân 7 tuổi chiếm tỷ lệ 1,4%. BS.Đào chia sẻ, hiện nay xơ hóa màng nhĩ hay xơ nhĩ nói chung được khẳng định không chỉ xảy ra ở bệnh nhân viêm tai giữa mạn mà còn xảy ra với viêm tai cấp, viêm tai thanh dịch cũng như bệnh nhân được đặt ống thông khí. Tác giả lưu ý đến việc khai thác tiền sử viêm tai giữa có thể không đầy đủ, do chảy mủ tai từ nhỏ bản thân không biết, người thân không nhớ; những trường hợp viêm tai cấp, viêm tai thanh dịch bị bỏ sót.

Trong nghiên cứu, hình thái sẹo nhĩ gặp 28/56 tai (50%); hình thái xơ hóa chỉ có 2/56 tai. Ở nhóm bệnh nhân đặt ống thông khí, tỷ lệ xơ hóa màng nhĩ là 23,6%; đồng thời vị trí mảng vôi hóa không luôn tương ứng với vùng chích rạch và khi thời gian đào thải ống thông khí càng lâu tỷ lệ xơ hóa màng nhĩ càng tăng. Biểu hiện triệu chứng xơ hóa màng nhĩ ở bệnh nhân sau đặt ống thông khí hay gặp nhất sau 10 năm và tổn thương canxi hóamàng nhĩ còn có sự đóng góp của bệnh lý tai giữa cần có chỉ định đặt ống thông khí chặt chẽ. Việc sử dụng adrenalin tại vị trí chích rạch trước khi đặt ống thông khí không gây ảnh hưởng tới sự phát triển xơ hóa màng nhĩ (theo dõi 12 tháng).

Có nghiên cứu của tác giả nước ngoài trên 30 bệnh nhân được phẫu thuật vá nhĩ sử dụng màng sụn bình tai và cân cơ thái dương, kết quả tỷ lệ xơ hóa màng nhĩ nhóm sử dụng màng sụn bình tai là 40%; nhóm sử dụng cân cơ thái dương 86,7% (p < 0,01); sự khác nhau này do sự khác nhau của cấu trúc mạch máu ở 2 loại vật liệu này.

Trong kết quả nghiên cứu cho thấy có 56% có triệu chứng trào ngược, có nghiên cứu ở nước ngoài, sử dụng kỹ thuật PCR xác định sự hiện diện của Helicobacter pylory ở mảnh sinh thiết niêm mạc tai giữa nhận thấy ở nhóm xơ nhĩ có 84%, dương tính với vi khuẩn HP.; nhóm không xơ nhĩ có 45,4% dương tính với HP. Có nghiên cứu cũng nhận xét dịch pepsin dạ dày hiện diện ở tai giữa của bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính.

BS.Đào có kết luận, yếu tố nguy cơ của bệnh là tiền sử viêm tai giữa, bệnh lý mũi xoang, bệnh lý trào ngược. Các bệnh lý phối hợp là bướu giáp, đái tháo đường, xơ vữa mạch, suy thận mạn, lupus ban đỏ.
Lâm Quyên
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 226

Số lượt truy cập: 9290681

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang