[Đăng ngày: 11/12/2017]
Từ tháng 4/2015 đến tháng 5/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Đỗ Văn Dung cùng cộng sự Trường Đại học Y Dược Thái Bình, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Quảng Trị thực hiện và báo cáo nghiên cứu “Thực trạng bệnh tật, điều trị thuốc ARV và sử dụng dịch vụ y tế, xã hội của người nhiễm HIV tại Quảng Trị”.

Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân nhiễm HIV từ 18 tuổi trở lên đang sinh sống tại Quảng Trị, có danh sách quản lý của Trung tâm phòng, chống HIV. Đây là nghiên cứu cắt ngang có kết hợp phương pháp định lượng và định tính. Tác giả nghiên cứu cho biết có 103 đối tượng nghiên cứu được mời tham gia nghiên cứu. Thời gian phát hiện nhiễm HIV của đối tượng nghiên cứu từ 3 năm trở lên chiếm tỉ lệ gần 72%. Giai đoạn lâm sàng của người nhiễm HIV chủ yếu là giai đoạn 1 chiếm tỉ lệ 67%; giai đoạn 2 chiếm 25%. Có 24% đối tượng nghiên cứu có các bệnh mãn tính kèm theo như viêm gan B, viêm gan C. Gần 23% đối tượng nghiên cứu có tình hình sức khỏe hay mệt mỏi. Tỉ lệ đối tượng nghiên cứu đang điều trị ARV là 79,6%. Hơn 92% đối tượng nghiên cứu tuân thủ điều trị ARV. Một số nguyên nhân làm nhóm đối tượng nghiên cứu chưa tuân thủ điều trị ARV là quên không đến nhận thuốc, không hợp tác cán bộ y tế, cán bộ y tế thiếu sự nhắc nhở thường xuyên đối tượng điều trị ARV. Tác giả nghiên cứu nhận xét, việc điều trị ARV ở bệnh nhân HIV/AIDS là khó khăn, dùng thuốc trong thời gian dài, thuốc có những tác dụng phụ nên người bệnh dễ có tâm lý bỏ điều trị, uống không đúng hướng dẫn. Trong nghiên cứu có 24,4% đối tượng nghiên cứu có những tác dụng phụ của thuốc về bệnh thần kinh ngoại vi, viêm tụy, phân bố lại mỡ, độc cho gan, thần kinh trung ương.

Kết quả trong nghiên cứu có 93% đối tượng nghiên cứu có nhu cầu tiếp cận sử dụng dịch vụ y tế hỗ trợ gồm tư vấn xét nghiệm, điều trị ARV, điều trị Methadone. Một số đối tượng nghiên cứu không muốn tiếp cận dịch vụ y tế do sợ bị công khai danh tính, hoặc do dịch vụ chưa đáp ứng nhu cầu của đối tượng nghiên cứu.

Vừa qua, Bộ Y tế đã ban hành kế hoạch tổ chức Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS năm 2017. Mục tiêu là nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là những người dễ tổn thương, người có hành vi nguy cơ cao, người dân sống ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc ít người về dự phòng, chăm sóc và điều trị HIV/AIDS nói chung và lợi ích của xét nghiệm HIV sớm nói riêng; Giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, tăng cường sự hỗ trợ của gia đình, xã hội với người nhiễm HIV/AIDS và trách nhiệm của người nhiễm HIVAIDS với gia đình, xã hội, đặc biệt là trong dự phòng lây nhiễm HIV và tham gia các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS.

Về nội dung truyền thông, Bộ Y tế nhấn mạnh cần chú trọng vào Lợi ích của tư vấn xét nghiệm sớm HIV và xét nghiệm định kỳ với nhóm có hành vi nguy cơ cao; Các biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV: Lợi ích của dự phòng sớm lây nhiễm HIV, sử dụng bơm kim tiêm sạch, bao cao su, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone; Dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con; Điều trị bằng thuốc ARV: Lợi ích của điều trị bằng thuốc ARV, Lợi ích tiếp cận sớm với các dịch vụ chăm sóc và điều trị HIV/AIDS; quảng bá các dịch vụ điều trị ARV tại địa phương v.v...; Bảo hiểm y tế cho người nhiễm HIV/AIDS: Sự cần thiết, quyền lợi, mức đóng, mức hưởng và thủ tục tham gia cũng như cách sử dụng bảo hiểm y tế khi khám chữa bệnh bảo hiểm y tế; Đảm bảo tài chính cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS; Luật Phòng, chống HIV/AIDS cần nhấn mạnh về quyền và nghĩa vụ của người nhiễm HIV, những điều khoản liên quan đến quyền tiếp cận điều trị và chăm sóc sức khỏe cho người nhiễm HIV/AIDS; Không kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS; Giới thiệu, quảng bá rộng rãi các dịch vụ xét nghiệm HIV; dự phòng, chăm sóc, điều trị HIV/AIDS sẵn có tại địa phương, đơn vị, bao gồm cả các dịch vụ chuyển tiếp, chuyển tuyến để mọi người dân, đặc biệt là những người dễ tổn thương, người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS dễ dàng tiếp cận và sử dụng; Về hình thức: Cần linh hoạt và triển khai đa dạng phong phú các hình thức truyền thông phù hợp với nguồn lực sẵn có của từng địa phương. Truyền thông trực tiếp như truyền thông với cá nhân, truyền thông nhóm, thăm gia đình người nhiễm HIV hoặc người có hành vi nguy cơ cao; tư vấn tại các cơ sở y tế; tổ chức sinh hoạt của các câu lạc bộ phòng, chống HIV/AIDS, các nhóm tự lực, các nhóm giáo dục đồng đẳng (lưu ý cần huy động sự tham gia của người nhiễm HIV và những người có hành vi nguy cơ cao tham gia các hoạt động truyền thông). Truyền thông đại chúng: Ưu tiên về thời điểm, thời lượng phát sóng trên đài phát thanh, đài truyền hình; dung lượng và vị trí đăng trên báo in, báo điện tử trong Tháng hành động quốc gia phòng, chống HIV/AIDS; tăng cường truyền thông qua các chương trình giải trí trên truyền hình, các phóng sự, các chương trình quảng cáo, các chương trình toạ đàm, giao lưu với những người nổi tiếng về HIV/AIDS... Xây dựng chuyên trang, chuyên mục, đăng tải tin, bài viết trên các phương tiện thông tin đại chúng ở trung ương và địa phương như Đài Phát thanh và Truyền hình, báo in, báo điện tử. Tăng cường truyền thông trên hệ thống mạng xã hội và các trang thông tin điện tử.
   Anh Huy
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 212

Số lượt truy cập: 9290759

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang