Điều trị đa mô thức tia xạ, hóa chất, phẫu thuật có nhiều tiến bộ trong điều trị ung thư trực tràng, tỉ lệ bảo tồn được cơ thắt hậu môn đạt tới 80%.
Theo các chuyên gia ung thư, cắt đoạn trực tràng bảo tồn cơ thắt làm thay đổi cấu trúc giải phẫu sinh lý, làm thay đổi nhu động trực tràng, thói quen đi ngoài của bệnh nhân. Sự thay đổi cụ thể như tăng số lần đi ngoài, đi ngoài khó, đau khi đi ngoài, không đi ngoài được phải can thiệp bằng thuốc, thụt tháo. Những thay đổi chức năng trực tràng sau mổ cắt đoạn trực tràng bảo tồn cơ thắt được gọi là “Hội chứng sau cắt đoạn trực tràng”. (Low Anterior Resection Syndrome).

Một nghiên cứu mô tả tiến cứu do tác giả Phạm Văn Bình cùng cộng sự Bệnh viện K báo cáo “Hội chứng sau cắt đoạn ung thư trực tràng”. Đối tượng nghiên cứu là 175 bệnh nhân ung thư trực tràng được cắt đoạn trực tràng theo protocole chuẩn ung thư: cắt trước (Anterior resection); cắt trước thấp (Low anterior resection) tại khoa ngoại bụng Bệnh viện K. Các bệnh nhân được mổ mở hoặc nội soi, nối đại tràng – mỏm trực tràng còn lại bằng máy hoặc bằng khâu tay. Các bệnh nhân được điều trị bổ trợ hóa xạ trị tiền phẫu hay hóa xạ trị hậu phẫu.
Kết quả nghiên cứu có 175 bệnh nhân phù hợp tham gia nghiên cứu; tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 65,7; người trẻ nhất 28 tuổi, già nhất 80 tuổi; có 97 nam/78 nữ. Ung thư giai đoạn 2 có 43,4%; giai đoạn 3 là 56,6%. Mổ mở 66,8%; mổ nội soi 33,2%. Loại mổ cắt trước 44%; cắt trước thấp 56%; có 31,4% đối tượng nghiên cứu xạ trị trước mổ; 25% hóa trị sau mổ. Có 5 bệnh nhân biến chứng rò miệng nối.
BS Bình cho biết, cắt đoạn trực tràng với diện cắt không còn tế bào ung thư ở thành trực tràng và mạc treo trực tràng, nối đại tràng với mỏm trực tràng còn lại, thắt mạch máu đúng vị trí gốc, nạo vét hạch là kỹ thuật tiêu chuẩn về ngoại khoa điều trị ung thư trực tràng. Vấn đề là miệng nối mỏm trực tràng còn lại không phải khi nào cũng đảm bảo chức năng sinh lý của trực tràng như một trực tràng còn nguyên vẹn. Các triệu chứng rối loạn về chức năng chứa phân và co bóp tống phân ra ngoài biểu hiện các triệu chứng, mức độ khác nhau. Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của hội chứng sau cắt đoạn trực tràng chưa rõ. Giả thuyết đề cập là sau mổ cắt đoạn trực tràng, thể tích còn lại của trực tràng không còn đủ dung tích sinh lý cũng như các tế bào niêm mạc cảm thụ áp lực ở bóng trực tràng cũng thay đổi; tổn thương các nhánh thần kinh hạ vị chi phối trực tràng hay bản thân miệng nối cũng làm thay đổi co bóp sinh lý của trực tràng.
BS Bình lưu ý, hội chứng sau cắt đoạn trực tràng làm ảnh hưởng đến chất lượng sống người bệnh. Sau 6 tháng sau mổ, tác giả đánh giá triệu chứng đi ngoài của đối tượng nghiên cứu cho thấy có 45 bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng hội chứng sau cắt đoạn trực tràng (25,7%). Trong đó nhóm đi ngoài nhiều lần (lớn hơn 3 lần/ngày) chiếm 16%. Có 2 bệnh nhân són phân.
BS Bình phân tích, tuổi và giới là yếu tố nguy cơ. Tuổi càng cao trương lực cơ thắt hậu môn càng giảm; nữ giới trương lực cơ thắt kém hơn nam giới. Đối với kỹ thuật mổ, nếu miệng nối càng thấp, cách rìa hậu môn dưới 5cm, mỏm trực tràng ngắn lại. Khi nối với mỏm trực tràng, đoạn đại tràng đưa xuống có thể được tạo hình túi (J Pouch) để tăng dung tích chứa như trực tràng, làm hạn chế rối loạn chức năng đi ngoài. Trong nghiên cứu 175 bệnh nhân được nối tận - tận bằng máy CDH29; không tạo hình J Pouch; nên không phân tích sự ảnh hưởng nêu trên.
Về ảnh hưởng của xạ trị trước mổ lên cơ thắt hậu môn, BS Bình cho biết có những nghiên cứu quốc tế cho thấy xạ trị làm ảnh hưởng đến bàng quang, tiền liệt tuyến, tử cung, âm đạo và cơ thắt hậu môn khi được xạ trị 45 Gr trước mổ. Xạ trị trước mổ làm tăng tỉ lệ đi ngoài nhiều lần, khó kiềm chế són phân. Biến chứng tại miệng nối cũng là yếu tố làm ảnh hưởng nâng tỉ lệ của hội chứng sau cắt đoạn trực tràng. Một khi có rò miệng nối, điều trị nội, ngoại khoa gì cũng xảy ra khi miệng nối liền sẹo làm viêm dày xơ hóa miệng nối, làm ảnh hưởng chức năng co bóp của trực tràng rối loạn. Có 5 trường hợp trong nghiên cứu bị rò miệng nối, được điều trị nội khoa tích cực, nhịn ăn, nuôi tĩnh mạch, hút liên tục dẫn lưu vùng tiểu khung sau 2 tuần bệnh nhân ổn định không phải can thiệp ngoại khoa.
Anh Duy