[Đăng ngày: 04/12/2017]
Đối với các bệnh ung thư, sự tăng sinh tế bào là một đặc tính quan trọng. Sự tăng sinh của các khối u được đánh giá bằng phương pháp hóa mô miễn dịch với kháng nguyên đặc biệt Ki67.

Theo các chuyên gia ung thư, có nhiều nghiên cứu cho thấy giá trị tiên lượng của Ki67 đối với ung thư vú. Khối u có chỉ số Ki67 cao sẽ có tiên lượng xấu; chỉ số Ki67 cao trên bệnh phẩm ung thư vú đáp ứng không hoàn toàn cũng là một yếu tố tiên lượng xấu. Tuy nhiên, chỉ số Ki67 cao lại cho kết quả đáp ứng tốt với hóa chất điều trị.

Kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy, tác động của hóa chất điều trị làm biến đổi đặc tính sinh học của khối u. Hóa chất điều trị tác động làm thay đổi sự bộc lộ các dấu ấn miễn dịch, sự thay đổi đó có liên quan đến thời gian sống của bệnh nhân. Các nhà nghiên cứu cho rằng, sự bộc lộ các dấu ấn miễn dịch cần được đánh giá lại trên bệnh phẩm phẫu thuật. Một trong số các dấu ấn miễn dịch có sự thay đổi là chỉ số tăng sinh Ki67. Ở những bệnh nhân đáp ứng tốt với điều trị hóa chất trước phẫu thuật, sự bộc lộ Ki67 có thể thấp hơn ở tế bào u còn lại so với trước điều trị. Kết quả nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự bộc lộ Ki67 giảm thường gặp ở những trường hợp bệnh nhân đáp ứng tốt với điều trị nội tiết và hóa chất.

Từ tháng 11/2013 đến tháng 7/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Lê Phong Thu cùng cộng sự Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, Bệnh viện K Hà Nội tiến hành mô tả tiến cứu báo cáo đề tài “Đặc điểm chỉ số nhân chia Ki67 trước và sau điều trị hóa chất tiền phẫu ung thư biểu mô tuyến vú”. Đối tượng nghiên cứu là 129 bệnh nhân nữ ung thư biểu mô tuyến vú được điều trị hóa chất tiền phẫu tại Bệnh viện K. Tác giả nghiên cứu áp dụng hệ thống phân loại đáp ứng mô bệnh học trên bệnh phẩm phẫu thuật sau điều trị hóa chất tiền phẫu của Hiệp hội ung thư vú Nhật Bản 2007; Đối với đánh giá Ki67, sử dụng kháng thể đơn dòng MIB5 của hãng Dako, tỉ lệ pha loãng 1/150. Chỉ số tăng sinh nhân Ki67 được tính bằng tỉ lệ phần trăm nhân tế bào bắt màu nhuộm trên tổng số tế bào ác tính. Tác giả nghiên cứu lấy mốc 14% là giới hạn điểm dương tính cao và thấp theo kết luận của Hội nghị St Galen 2013. Tỉ lệ phần trăm bộc lộ Ki67 được xác định trong 10 vi trường ở độ phóng đại 400 lần.

BS Lê Phong Thu phân tích báo cáo, độ tuổi dưới 50 của đối tượng nghiên cứu chiếm 47,3%; trên 50 tuổi chiếm 52,7%. Ung thư ở giai đoạn 2 chiếm tỉ lệ 13,9%; giai đoạn 3 chiếm 86,1%. Kích thước u < 5cm chiếm 51,9%, lớn hơn 5cm chiếm 48,1%. Loại mô học là biểu mô ống xâm nhập chiếm 86,1%. Độ mô học chủ yếu là độ 2 (89,1%). Tỉ lệ đáp ứng hoàn toàn bao gồm cả trường hợp còn thành phần nội ống là 26,4%; đáp ứng không hoàn toàn là 73,6%.

Tác giả nghiên cứu có nhận xét, mặc dù nhiều nghiên cứu chỉ ra giá trị tiên lượng của Ki67 trong ung thư vú, nhưng số lượng các nghiên cứu tiến hành thời điểm sau điều trị hóa chất tiền phẫu còn ít. Có nghiên cứu trên thế giới hồi cứu Ki67 trước và sau điều trị hóa chất tiền phẫu cho thấy Ki67 là yếu tố dự đoán tốt nhất đối với tỉ lệ sống toàn bộ khi so sánh với các dấu ấn sinh học như Ki67, ER, PR, Her2 trên bệnh nhân ung thư vú. Kết quả nghiên cứu của tác giả Neubauer cho thấy, trung bình chỉ số Ki67 giảm từ 30% trước điều trị xuống còn 13% sau điều trị (p < 0,01); cho thấy có sự đáp ứng mô bệnh học sau điều trị hóa chất tiền phẫu. Một nghiên cứu của tác giả Jin năm 2015 thực hiện trên 2 nhóm bệnh nhân được điều trị bằng phác đồ hóa chất khác nhau; nhóm 1 có 54,3% bệnh nhân có thay đổi Ki67; nhóm 2 có 70,6% thay đổi Ki67.

BS Thu chia sẻ, kết quả trong nghiên cứu có sự thay đổi bộc lộ Ki67 trước và sau điều trị hóa chất tiền phẫu. Kết quả trung bình Ki67 trước điều trị là 36%, sau điều trị giảm còn 23%. Có 54 trường hợp không thay đổi mức độ bộc lộ Ki67; Có 10 trường hợp tăng, 36 trường hợp giảm mức độ bộc lộ Ki67 sau điều trị hóa chất. Tác giả nghiên cứu nhận xét, sau điều trị hóa chất phần lớn các trường hợp còn tế bào u trên bệnh phẩm phẫu thuật có tỉ lệ bộc lộ chỉ số Ki67 giảm so với trên bệnh phẩm sinh thiết trước điều trị.

BS Thu lưu ý, đánh giá chỉ số Ki67 có ý nghĩa đối với những bệnh nhân được lựa chọn điều trị hóa chất tiền phẫu vì có giá trị tiên lượng, thể hiện sự đáp ứng với điều trị hóa chất.

Kết quả trong nghiên cứu, cho thấy có sự đáp ứng mô bệnh học liên quan có ý nghĩa với giá trị Ki67 khi phân tích đa biến. Sự bộc lộ Ki67 cao có liên quan đến tỉ lệ đáp ứng mô bệnh học hoàn toàn. Những bệnh nhân có tăng sinh tế bào cao, Ki67 > 25%, được khuyến khích điều trị hóa chất tiền phẫu. Tác giả cũng cho biết, do hạn chế về thời gian nghiên cứu, trong nghiên cứu chưa đánh giá được ý nghĩa của bộc lộ Ki67 trước và sau điều trị hóa chất tiền phẫu với thời gian sống không bệnh và thời gian sống toàn bộ của người bệnh.

Tác giả nghiên cứu kết luận, dưới tác động của hóa chất điều trị, sự bộc lộ của chỉ số tăng sinh nhân Ki67 có sự thay đổi trước và sau điều trị tương ứng trên bệnh phẩm sinh thiết kim và bệnh phẩm phẫu thuật. Chỉ số trung bình Ki67 trước điều trị là 36%; sau điều trị giảm còn 23%. Nhóm có chỉ số Ki67 cao đáp ứng mô bệnh học hoàn toàn cao nhất (29%); thấp nhất ở nhóm có chỉ số Ki67 thấp (nhỏ hơn 14%).
Huy Hoàng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 215

Số lượt truy cập: 9290761

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang