[Đăng ngày: 15/11/2017]
Chảy máu sau đẻ là một trong 5 tai biến sản khoa nặng nề, là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong cho người mẹ.

Theo báo cáo Viện Bảo vệ Bà mẹ trẻ sơ sinh, tại Việt Nam, tử vong do chảy máu sau đẻ chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các nguyên nhân tử vong mẹ, tỷ lệ tử vong do chảy máu sau đẻ chiếm 27,5% trong số các trường hợp tử vong mẹ. Có nhiều nguyên nhân gây chảy máu sau đẻ như đờ tử cung, sót rau, chấn thương đường sinh dục dưới, vỡ tử cung, rau bong non, rau cài răng lược. Nếu không được phát hiện sớm, xử trí đúng và kịp thời sẽ dẫn đến tử vong mẹ hoặc để lại những di chứng nặng nề.

Từ tháng 1/2015 đến tháng 6/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Quảng Bắc cùng cộng sự Bệnh viện Phụ sản Trung ương thực hiện nghiên cứu hồi cứu mô tả báo cáo đề tài “Một số nguyên nhân chảy máu sau đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương”. Đối tượng nghiên cứu là tất cả các bệnh án của các trường hợp được chẩn đoán là chảy máu sau đẻ đường âm đạo và mổ lấy thai tại Bệnh viện có truyền máu. Tiêu chuẩn lựa chọn tuổi thai từ 22 tuần trở lên đẻ đường âm đạo hoặc mổ đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương; Bệnh án được chẩn đoán là chảy máu sau đẻ và được truyền máu. Hồ sơ bệnh án ghi chép đầy đủ các thông tin cần thiết. Trong thời gian nghiên cứu có 215 bệnh nhân chảy máu sau đẻ phù hợp chọn đối tượng tham gia nghiên cứu.

BS Nguyễn Quảng Bắc phân tích báo cáo, nguyên nhân đờ tử cung vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây chảy máu sau đẻ. Chảy máu sau đẻ do đờ tử cung chiếm tỷ lệ 23,7% chỉ sau rau cài năng lược là 31,2%. Tác giả giải thích đối tượng nghiên cứu là các trường hợp chảy máu sau đẻ có truyền máu nên gặp nhiều những trường hợp nặng hơn như rau cài răng lược và rau tiền đạo. Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến cáo cần xử trí tích cực giai đoạn 3 chuyển dạ rộng rãi cho các cơ sở y tế; sử dụng các loại thuốc dự phòng và điều trị đờ tử cung có tác dụng tốt như Duratocin, oxytocin, ergometrin, misofrostol đã giúp làm giảm đáng kể tỷ lệ cũng như mức độ nghiêm trọng chảy máu sau đẻ do đờ tử cung.

Kết quả trong nghiên cứu, rau tiền đạo chiếm 20,5% các nguyên nhân gây chảy máu sau đẻ. Cũng giống như rau cài răng lược, tỷ lệ rau tiền đạo cũng tăng lên cùng với sự gia tăng của tỷ lệ mổ lấy thai. Đối với sót rau gây chảy máu sau đẻ chiếm 1,9%; có những nghiên cứu tỷ lệ sót rau đến 9,2%. Nguyên nhân sót rau có thể gặp trong những trường hợp sau đẻ thường, đẻ non, thai chết lưu, cũng có thể sau mổ đẻ. Tác giả nghiên cứu cho biết, 100% chảy máu sau đẻ do nguyên nhân sót rau trong nghiên cứu là những trường hợp sau đẻ thường, đẻ thai non tháng và có tiền sử đẻ và hút thai nhiều lần.

Đối với nguyên nhân rau bong non chiếm tỷ lệ 1,9% các nguyên nhân gây chảy máu sau đẻ. Các trường hợp này đều được chẩn đoán trước mổ và tiến hành mổ lấy thai cấp cứu. Rau bong non thường xảy ra ở bệnh nhân tiền sản giật. Tác giả nghiên cứu cho biết có 2 trường hợp rau bong non ở bệnh nhân có hội chứng HELLP, 1 trường hợp tiền sản giật; chiếm tỷ lệ 75% trong số trường hợp chảy máu sau đẻ do rau bong non.

Rách tầng sinh môn – âm đạo – cổ tử cung đứng thứ 4 trong các nguyên nhân gây chảy máu sau đẻ chiếm tỷ lệ 16%. Đối với nhóm đẻ forceps, chảy máu sau đẻ do rách tầng sinh môn – âm đạo – cổ tử cung có 5 trường hợp đều là rách phức tạp. Các trường hợp đẻ forceps thường do thai suy, tiền sản giật, rặn đẻ lâu gây phù nề đường sinh dục dưới vì vậy khi can thiệp thủ thuật dễ gây rách đường sinh dục. BS Bắc có khuyến cáo người bác sĩ cần tôn trọng các giai đoạn sinh lý của cuộc chuyển dạ, can thiệp thủ thuật đúng chỉ định, đúng kỹ thuật.

Tụ máu đường sinh dục dưới là nguyên nhân đứng thứ 5 gây chảy máu sau đẻ với tỷ lệ là 3,72%. Sau đẻ đường dưới khối máu tụ hình thành có thể do các tổ chức dập nát và khi khâu tầng sinh môn – âm đạo – cổ tử cung không khâu hết các lớp giải phẫu, sót mạch máu chưa khâu nên máu vẫn tiếp tục chảy tạo nên khối máu tụ. Khối máu tụ có thể gặp vài giờ hoặc vài ngày sau đẻ do máu chảy từ từ, khối máu tụ to dần lên, máu không chảy ra ngoài nên không phát hiện sớm.

Tác giả nghiên cứu phân tích, vỡ tử cung trong trường hợp đẻ thường xảy ra ở 3 trường hợp không có vết mổ cũ ở tử cung, những người con rạ, con so đẻ song thai; có 1 trường hợp có vết mổ đẻ cũ 2 lần, đình chỉ thai 24 tuần bằng truyền oxytocin vì thai dị tật. Trường hợp đẻ forceps vỡ tử cung do đặt cành forceps không đúng kỹ thuật. Tác giả lưu ý, chỉ định gây chuyển dạ đối với trường hợp có sẹo mổ cũ ở tử cung có nguy cơ vỡ tử cung cao ngay cả khi thai rất non tháng. Vỡ tử cung ở nhóm mổ đẻ có 2 trường hợp đều có sẹo mổ cũ ở tử cung. Cả 2 trường hợp này đều vỡ tử cung khi chuyển dạ. Do vậy cần quản lý thai nghén chặt chẽ ở những trường hợp có nguy cơ vỡ tử cung như tiền sử mổ đẻ hoặc bóc nhân xơ tử cung.

Tác giả nghiên cứu báo cáo, có 1 trường hợp mổ đẻ vì đầu không lọt, lấy thai khó khăn, đầu có bướu huyết thanh, kỹ thuật lấy thai chưa tốt, gây rách đoạn dưới tử cung.

Tác giả cho rằng mổ đẻ ở những trường hợp có nguy cơ chảy máu sau mổ như tiền sản giật, tăng huyết áp thì cần chú ý khâu đúng kỹ thuật chảy máu tại vết mổ tử cung do khâu phục hồi vết mổ lấy thai không tốt hoặc do nhiễm trùng làm bục vết mổ đoạn dưới tử cung gây chảy máu vết mổ. Có trường hợp tử cung dính vào thành bụng, bàng quang treo cao dính vào tử cung, gỡ dính khó khăn, cầm máu khó khăn. Hoặc nếu kỹ thuật đóng vết mổ thành bụng chưa tốt gây khối máu tụ lớn ở thành bụng. Xử trí phải mở lại vết mổ lấy máu tụ và khâu phục hồi vết mổ thành bụng. Có những trường hợp cắt 2 phần phụ, kỹ thuật đóng mỏm cắt không tốt; buộc cuống động mạch không tốt nên chảy máu gặp trong những trường hợp rau tiền đạo, rau cài răng lược.
Mai Trang
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 219

Số lượt truy cập: 9290765

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang