Theo các chuyên gia ung bướu, với các phương tiện chẩn đoán như siêu âm màu, chụp cộng hưởng từ đã giúp cho việc phát hiện tình cờ khối u tinh hoàn ngày nhiều hơn từ những bệnh nhân nam đi khám vô sinh.
Đối với ung thư tinh hoàn, thường xử trí là cắt bỏ tinh hoàn toàn bộ, kết hợp nạo vét hạch bạch huyết rộng rãi. Các chuyên gia ung bướu đặt câu hỏi, làm sao để biết đây là một khối u tinh hoàn có nhiều khả năng là lành tính và đối với một khối u tinh hoàn được phát hiện tình cờ, vấn đề điều trị bảo tồn tinh hoàn sẽ như thế nào?
Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Phú Việt cùng cộng sự Học Viện Quân Y, phòng khám đa khoa Âu Việt, đã tham khảo các công trình nghiên cứu, liên quan đến khối u tinh hoàn được công bố trong thời gian gần đây, báo cáo đề tài “Làm thế nào để tránh phải cắt bỏ tinh hoàn toàn bộ khi tình cờ chẩn đoán được khối u của tinh hoàn”. Báo cáo nêu lên những chỉ định, cách thức điều trị bảo tồn tinh hoàn áp dụng cho các tổn thương của tinh hoàn được phát hiện một cách tình cờ.
Các báo cáo cho thấy ở Châu Âu, tỷ lệ ung thư tinh hoàn khoảng 1,5% các ung thư nam giới, tần suất gặp là từ 3 – 10 người/100.000 dân/năm. Thể bệnh bị ung thư tinh hoàn cả hai bên, đồng thời và không đồng thời từ 1 – 2%. Một công trình nghiên cứu của Peng năm 2009 báo cáo cho biết hiếm muộn – vô sinh là yếu tố nguy cơ của ung thư tinh hoàn.

Nguy cơ tồn tại ở cả các bệnh nhân không bị tinh hoàn ẩn. Khi siêu âm bệnh nhân bị hiếm muộn – vô sinh thấy một vùng nhu mô tinh hoàn kết lại như một khối u; mật độ âm khác với nhu mô tinh hoàn xung quanh. Tỷ lệ thấy vùng nhu mô tinh hoàn kết lại ở bệnh nhân hiếm muộn – vô sinh từ 0,3 – 1,4%; những bệnh nhân không có tinh trùng trong tinh dịch, nhóm bệnh nhân không do tắc ống dẫn tinh thường gặp hơn so với những nhóm khác.
Tác giả cho rằng, các bệnh nhân bị hiếm muộn – vô sinh do không sờ thấy vùng nhu mô kết lại, do vậy nên được làm siêu âm cơ quan sinh dục một cách có hệ thống. Vì có chống chỉ định sinh thiết tinh hoàn qua da, nhưng siêu âm không thay thế xét nghiệm giải phẫu bệnh, tác giả lưu ý.
Khi kích thước của vùng nhu mô tinh hoàn kết lại lớn hơn 16mm, vùng nhu mô đó là một khối u ác tính (p<0,05). Một nghiên cứu vào năm 2015 về tỷ lệ khối u tinh hoàn lành tính, báo cáo đường biểu diễn ROC cho phép xác định giới hạn kích thước của vùng nhu mô tinh hoàn kết lại là 18,5mm. Dưới 18,5mm có 38,5% trường hợp là khối u tinh hoàn lành tính – độ nhạy 87%, độ đặc hiệu là 83%. Nếu lớn hơn 18,5mm chỉ có 2% các vùng nhu mô đó là khối u tinh hoàn lành tính.
Tác giả nghiên cứu cho rằng, siêu âm đóng vai trò trọng tâm trong chẩn đoán và điều trị khối u tinh hoàn. Sau khám lâm sàng, siêu âm là xét nghiệm đầu tay làm thường quy. Bệnh nhân được chỉ định chụp cộng hưởng từ khi chẩn đoán khó khăn, nghi ngờ trong chẩn đoán. Siêu âm sẽ trả lời những câu hỏi bác sĩ muốn biết, như vùng nhu mô tinh hoàn kết lại như một khối u có khu trú không; tính chất phân bố mạch máu của vùng nhu mô; khối lượng vùng nhu mô bao nhiêu; nhu mô tinh hoàn lành còn lại bao nhiêu; có kèm tổn thương khác, có lắng đọng canxi; Vì vậy cơ sở khám bệnh cần đầu tư máy siêu âm chất lượng cao phối hợp với siêu âm màu và đầu dò siêu âm từ 10 – 14 MHz.
Tác giả nghiên cứu lưu ý, một khối u, không được sờ thấy, được phát hiện tình cờ bằng siêu âm như khối u các tế bào Leydig, tế bào Sertoli; một khối u ác tính, một khối nhồi máu, một u xơ, một khối u bạch huyết hoặc khối ung thư từ xa di căn đến tinh hoàn. Tác giả nhấn mạnh một khối u được sờ thấy một cách tình cờ, không có triệu chứng cơ năng, thường là khối u ác tính.
Đối với những trường hợp có nhiều khối u, đó là loại khối u có nhiều ổ hoặc một viêm tinh hoàn hoặc một ung thư di căn đến tinh hoàn; hoặc do tăng sản của các tế bào Leydig. Thường tỷ lệ khối u các tế bào Leydig thường gặp 55%, tần suất là 3,5người/1000 bệnh nhân bị hiếm muộn – vô sinh. Khối u các tế bào Leydig khác với tăng sản các tế bào Leydig; trong tăng sản nhu mô vùng tổn thương vẫn còn các ống sinh tinh; vùng nhu mô tăng sản không phải là một khối u, nhưng cấu trúc mô học là một vùng nhu mô tinh hoàn kết lại như khối u; nhận biết được bằng siêu âm. Nghiên cứu cũng cho thấy các bệnh nhân bị bệnh Klinefelter đều có vùng nhu mô tinh hoàn tăng sản các tế bào Leydig. Nguyên nhân do kích thích tố tuyến yên kích thích nhu mô tinh hoàn quá mức. Một nghiên cứu năm 2016 cho thấy, trong các tổn thương lành tính tinh hoàn, u nang dạng biểu bì là gặp nhiều nhất, chiếm dưới 1% các khối u ở người lớn.
Về điều trị, phẫu thuật cắt bán phần tinh hoàn được đề xuất trước tiên. Điều bất lợi là khi cắt bỏ tinh hoàn toàn bộ ảnh hưởng chức năng nội tiết và hình ảnh bản thân của bệnh nhân. Chỉ định cắt bán phần đối với khối u chiếm dưới 10% khối lượng tinh hoàn; kích thước tổn thương từ 10 – 20 mm. Khi kích thước tổn thương lớn hơn 20mm chỉ định cắt tinh hoàn toàn bộ cộng với nạo vét hạch bạch huyết rộng rãi. Khi phẫu thuật phối hợp sử dụng siêu âm trong lúc mổ; cắt bỏ khối u cần giữ bệnh phẩm làm xét nghiệm mô học tức thì. Xét nghiệm cho phép phân biệt khối u lành hay u ác tính; từ đó tránh được phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn một lần nữa. Bác sĩ giải phẫu bệnh phải biết triệu chứng lâm sàng, vị trí, thể tính khối u. Cần phải lấy mẫu đúng nơi tổn thương; không lấy khi chỗ tổn thương đã bị đốt điện hoặc tổn thương có phản ứng viêm che khuất mô ác tính.
Anh Duy