Suy hô hấp cấp là tình trạng cấp cứu thường gặp đặc trưng bởi giảm oxy máu. Trong suy hô hấp cấp, tổn thương hay gặp là tăng tính thấm màng mao mạch phế nang và tăng áp lực thủy tĩnh, gây phù khoảng kẽ về phế nang; từ đó làm giảm thông khí, tạo hiện tượng Shunt, gây trơ với các liệu pháp oxy thông thường, đòi hỏi phải thông khí nhân tạo.

Theo các chuyên gia hồi sức cấp cứu, với những thăm khám lâm sàng và cận lâm sàng thông thường, không thể đánh giá được chính xác mức độ phù mô kẽ phổi cũng như những ảnh hưởng của nó lên tình trạng hô hấp của bệnh nhân. Các chuyên gia cho biết, việc áp dụng kỹ thuật thăm dò huyết động bằng phương pháp hòa loãng nhiệt PiCCO giúp đo lường chỉ số nước ở ngoài mạch phổi (EVLW); kỹ thuật giúp tính được chỉ số thấm mạch phổi (PVPI), phản ánh tính thấm của các mạch máu nhỏ trong phổi, đây là 2 chỉ số sử dụng để đánh giá, theo dõi tình trạng phổi người bệnh.
Vừa qua, tác giả nghiên cứu Nguyễn Văn Chi cùng cộng sự Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bạch Mai thực hiện nghiên cứu quan sát mô tả tiến cứu báo cáo đề tài “Vai trò của chỉ số nước ngoài mạch phổi ở bệnh nhân thông khí nhân tạo xâm nhập”. Tác giả cho biết, có 31 bệnh nhân suy hô hấp nặng cần được thông khí nhân tạo tại khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bạch Mai được mời chọn tham gia nghiên cứu; bệnh nhân được khám lâm sàng, thực hiện xét nghiệm đánh giá tình trạng suy tim, tình trạng viêm để chẩn đoán; phân chia ra 3 nhóm: (1) Phù phổi cấp tổn thương; (2) Phù phổi cấp huyết động; (3) Không phải phù phổi cấp.
BS Chi phân tích báo cáo, 31 bệnh nhân có độ tuổi trung bình là 62,7; người cao nhất là 79 tuổi, thấp nhất 19 tuổi. Suy hô hấp nguyên nhân phù phổi cấp tổn thương chiếm 51%; phù phổi cấp huyết động chiếm 39%, còn lại là tổn thương phổi một bên. Nhóm phù phổi cấp huyết động có chỉ số nước ở ngoài mạch phổi (EVLW) cao hơn so với nhóm phù phổi cấp tổn thương. Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán phù phổi cấp đều có EVLW >10; đây là bằng chứng để chẩn đoán bệnh nhân bị phù phổi cấp. Nhóm phù phổi cấp huyết động có chỉ số thấm mạch phổi (PVPI) thấp hơn so với nhóm phù phổi cấp tổn thương (p < 0,001).
Tác giả nghiên cứu cho rằng, với chỉ số tính thấm mạch phổi > 2,2 có thể kết luận bệnh nhân có tăng tính thấm màng phế nang – mao mạch. Trong nhóm phù phổi cấp tổn thương, sau khi thăm dò huyết động bằng phương pháp hòa loãng nhiệt PiCCO, nhận thấy có 3 bệnh nhân có CI giảm hoặc phụ thuộc Dobutamin, các bệnh nhân này không có tiền sử bệnh tim; không có nhồi máu cơ tim hay rối loạn nhịp tim mới, triệu chứng suy tim trên lâm sàng không rõ ràng nhưng triệu chứng viêm và bilan viêm rất rõ. Hai bệnh nhân giảm CI đều có bệnh cảnh shock nhiễm khuẩn nặng ngay từ lúc vào.
Tác giả nghiên cứu lưu ý, những bệnh nhân được chẩn đoán phù phổi cấp tổn thương vẫn có thể có những bệnh nhân có tình trạng suy tim đi kèm, hoặc suy tim là thứ phát sau nhiễm khuẩn.
Cùng với 3 bệnh nhân trong nhóm phù phổi cấp huyết động có bilan viêm tăng cao và chỉ số thấm mạch phổi PVPI >2,2; tác giả xếp những bệnh nhân này vào nhóm phù phổi cấp cơ chế kết hợp; đây là những bệnh nhân thuộc nhóm bệnh khó, phức tạp cần được nghiên cứu thêm, tác giả nghiên cứu lưu ý.
BS Chi cho biết trong nghiên cứu, không tìm thấy mối tương quan giữa chỉ số nước ở ngoài mạch phổi (EVLW) và chỉ số thấm mạch phổi (PVPI) và cả trong nhóm phù phổi huyết động; tuy nhiên các chỉ số có tương quan rất chặt chẽ trong nhóm phù phổi cấp tổn thương (r = 0,84; p < 0,001).
Tác giả nghiên cứu chia sẻ, dù chỉ số nước ở ngoài mạch phổi (EVLW) rất cao ở nhóm phù phổi cấp huyết động, song chỉ số này không có tương quan với tỷ lệ mức độ suy hô hấp P/F; là một chỉ số để đánh giá mức độ nặng của giảm oxy máu. Ngược lại, 2 chỉ số này có tương quan mức độ trung bình trong nhóm phù phổi cấp tổn thương.
Tác giả nghiên cứu có kết luận, chỉ số nước ở ngoài phổi tăng cao hơn ở nhóm bệnh nhân phù phổi cấp huyết động và ít tăng hơn ở nhóm phù phổi cấp tổn thương. Đối với chỉ số tính thấm mao mạch phổi ở nhóm phù phổi cấp tổn thương có tăng lên và cao hơn so với nhóm phù phổi cấp huyết động. Nghiên cứu không tìm thấy mối tương quan chặt giữa chỉ số nước ngoài phổi và chỉ số tính thấm trong tổng số 31 bệnh nhân tham gia nghiên cứu; nhưng có tương quan rất chặt giữa 2 chỉ số này trong nhóm phù phổi cấp tổn thương.
Nghiên cứu cũng không tìm thấy mối tương quan giữa chỉ số nước ngoài phổi với mức độ suy hô hấp (tỷ lệ P/F) ở nhóm bệnh nhân phù phổi có cơ chế suy tim, quá tải dịch và có mối tương quan mức độ trung bình ở nhóm bệnh nhân phù phổi cấp do tăng tính thấm màng phế nang mao mạch.
Anh Duy