Theo các chuyên gia Lão khoa, cùng với sự tăng lên về tuổi, tỉ lệ mắc bệnh cơ thể và bệnh về tâm thần ngày một tăng lên.
Trong tâm thần học, người già rối loạn hay gặp nhất là trầm cảm. Trước hoặc sau khi chẩn đoán rối loạn trầm cảm, người cao tuổi có thể mắc các bệnh lý cơ thể và giữa các bệnh lý này có thể tương tác, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau dẫn đến khó khăn trong việc chẩn đoán và điều trị.
Từ tháng 12/2015 đến tháng 3/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Đoàn Thị Huệ cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Đặc điểm trầm cảm và bệnh lý cơ thể ở bệnh nhân cao tuổi”. Đối tượng nghiên cứu là 41 bệnh nhân cao tuổi được chẩn đoán rối loạn trầm cảm điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần.
Tác giả nghiên cứu báo cáo, trầm cảm người cao tuổi gặp chủ yếu là nữ giới 80,5%; nhóm tuổi 60 – 64, 65 – 69 chiếm bằng nhau gần 30%. Có 51,2% đối tượng nghiên cứu đã nghỉ hưu. Rối loạn hỗn hợp lo âu trầm cảm gặp nhiều nhất với tỉ lệ 41,5%. Nhóm bệnh nhân được chẩn đoán giai đoạn trầm cảm cao thứ 2 với 36,6%; nhóm rối loạn trầm cảm tái diễn chiếm 22%;
BS Huệ phân tích, sự khác biệt về yếu tố sinh lý và các yếu tố tâm lý xã hội tác động lên 2 giới nam, nữ khác nhau. Trong nghiên cứu nữ giới độ tuổi trên 60 cũng nhiều hơn. Độ tuổi 60 – 69 là giai đoạn chuyển tiếp có nhiều thay đổi về sức khỏe, công việc dẫn đến các xáo trộn về thói quen sinh hoạt là một trong những yếu tố góp phần dẫn đến trầm cảm có những đối tượng nghiên cứu, nghỉ hưu làm ảnh hưởng nhiều khía cạnh, người bệnh trở nên chán nản, buồn bực, đây là lý do làm nhóm bệnh nhân này có tỉ lệ trầm cảm cao nhất.
Tác giả nghiên cứu cho biết, nhóm bệnh nhân giai đoạn trầm cảm nặng có tỉ lệ mắc bệnh lý cơ thể cao nhất, phần lớn do tiến độ của người nhà và bệnh nhân. Việc mắc bệnh lý cơ thể giống như một sang chấn tâm lý, làm người bệnh lo âu, suy nghĩ, coi mình là gánh nặng của người thân, gia đình; trong khi người nhà lại coi đây là phản ứng tự nhiên của người bệnh nên chủ quan. Bệnh nhân đến viện khi bệnh đã trở nặng. Tác giả nghiên cứu lưu ý, ở người cao tuổi rối loạn trầm cảm thường tiến triển phức tạp, lâu dài, phải dùng nhiều thuốc, lối sống sinh hoạt bị ảnh hưởng lâu dài kết hợp thêm các tác dụng phụ của thuốc nên thường mắc thêm bệnh và các bệnh thường khó kiểm soát.

BS Huệ báo cáo, trong số các bệnh lý cơ thể, tim mạch thường gặp nhất với gần 60%; Ở người có rối loạn trầm cảm, sự trì trệ trong chế độ ăn uống, vận động, do tác dụng phụ của thuốc điều trị trầm cảm, thuốc tăng huyết áp chẹn bêta giao cảm; do bệnh thứ phát sau đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa lipit máu; đây là những bệnh phát hiện thêm sau khi có rối loạn trầm cảm. Các bệnh kèm theo cũng là yếu tố nguy cơ làm tăng biến cố tim mạch cho bệnh nhân. Tuy nhiên, tác giả nghiên cứu báo cáo, phần lớn đối tượng nghiên cứu đã mắc bệnh lý mạn tính trước khi có rối loạn trầm cảm và việc người bệnh mắc các bệnh lý cơ thể đồng thời với rối loạn trầm cảm làm cho công tác điều trị phức tạp, khó khăn, kéo dài thời gian điều trị hơn.
Tác giả George (1989) đã có nhận xét, trầm cảm suy nhược có thể biểu hiện ban đầu của nhiều bệnh lý khác nhau, đặc biệt là người cao tuổi trước tác động của nhiều yếu tố tâm lý xã hội và bệnh kèm theo.
Về thời gian điều trị trầm cảm, tác giả nghiên cứu báo cáo thời gian điều trị trung bình nhóm có tiền sử bệnh cơ thể trước trầm cảm là 17,8 ngày, cao hơn nhóm không có tiền sử bệnh cơ thể trước đó 14,89 ngày. Thời gian điều trị trung bình nhóm có mắc thêm bệnh cơ thể sau trầm cảm là 17,7 ngày, cũng cao hơn nhóm không mắc thêm bệnh 15,2 ngày. Tác giả cho rằng, việc mắc thêm bệnh lý cơ thể làm cho tình trạng trầm cảm phức tạp hơn, cần nhiều thời gian điều trị hơn.
Việt Nam là quốc gia có sự quan tâm, nghiên cứu về xây dựng chính sách đối với công tác chăm sóc người cao tuổi. Chiến lược Dân số sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đưa ra chỉ tiêu cụ thể. Đến năm 2015 cơ sở y tế từ tuyến huyện trở lên có điểm cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi từ 20% trở lên; đến năm 2020 con số này là 50%. Đối với chỉ tiêu tỷ lệ người cao tuổi được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe dựa vào cộng đồng năm 2015 đạt 20% và đến năm 2020 tỷ lệ này tăng lên 50%. Ngày 15/10/2011, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 35/2011/TT-BYT về hướng dẫn chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Thông tư quy định, các Bệnh viện đa khoa, Bệnh viện chuyên khoa (trừ Bệnh viện Nhi); Bệnh viện Y học cổ truyền có quy mô từ 50 giường bệnh trở lên phải bố trí giường điều trị nội trú và tổ chức phòng khám bệnh riêng cho người cao tuổi tại khoa khám bệnh. Đối với các Trạm Y tế xã, phường, thị trấn, các cơ sở khám chữa bệnh khác có trách nhiệm tổ chức khám chữa bệnh cho người cao tuổi; thực hiện chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại cộng đồng. Gần đây Bộ Y tế ban hành Đề án chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, đề án nhấn mạnh công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ngay tại cộng đồng thay vì dựa vào bệnh viện hoặc nhà dưỡng lão với những khoản chi phí cao.
Theo ông Phan Văn Giáp - Phó Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh Khánh Hòa, năm 2013 tỉnh Khánh Hòa có tỷ lệ người cao tuổi là 10%; năm 2014 tỷ lệ này tăng lên 10,2%. Hiện tỉnh Khánh Hòa đang tiếp tục phấn đấu duy trì giảm sinh, thực hiện quy mô dân số hợp lý, tập trung nội dung nâng cao chất lượng dân số, thực hiện tốt Đề án “Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi dựa vào cộng đồng”; mục tiêu chung là cải thiện sức khỏe thể chất và tinh thần cho người cao tuổi, qua đó góp phần phát huy và nâng cao chất lượng dân số. Mục tiêu cụ thể của Đề án là cải thiện chất lượng tư vấn chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, phát hiện và xử trí sớm các bệnh thường gặp ở người cao tuổi.
Rõ ràng, mỗi chúng ta cần phải có suy nghĩ thật nghiêm túc đối với sự già hóa dân số, mỗi chúng ta phải có kế hoạch sắp xếp cho tương lai bản thân và gia đình; chăm lo cho người cao tuổi cũng là cách đảm bảo cho sự ổn định trong tương lai gần; chăm sóc phát huy vai trò người cao tuổi tiến tới “già hóa chủ động” là thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ và đạo đức con người Việt Nam.
Tường Huân