U thần kinh thính giác là loại u hay gặp của vùng góc cầu tiểu não với tỷ lệ trên 80%. Bản chất của u là u tế bào schwann lành tính của dây thần kinh số VIII, tuy nhiên sự phát triển, choán chỗ của khối u trong hố sọ sau gây chèn ép lên thân não và tiểu não có thể dẫn đến nhiều biến chứng nặng nè do tăng áp lực nội sọ.
Theo các chuyên gia chẩn đoán hình ảnh, với tiến bộ của các phát hiện chẩn đoán, đặc biệt là chụp cộng hưởng từ MRI, nhiều khối u đã được phát hiện từ khi còn nhỏ và kiểm soát hiệu quả bằng xạ phẫu (dao Gamma, dao X). Thực tế, do phần lớn khối u có tiến triển chậm, gây nên các triệu chứng không điển hình, vì vậy nhiều bệnh nhân được chẩn đoán khi khối u đã to cần phải phẫu thuật nhằm mục đích lấy bỏ khối u, giảm chèn ép nội sọ.

Các bác sĩ thần kinh thực hiện phẫu thuật u thần kinh thính giác mục đích lấy bỏ khối u, giảm chèn ép nội sọ, Các bác sĩ thực hiện theo đường mổ dưới chẩm, khó khăn chủ yếu khi thực hiện đường mổ này là khó xác định dây thần kinh VII, khó lấy hết u trong ống tai trong, cần vén bán cầu tiểu não để bộc lộ khối u nên có thể gây dập não, phù não làm ảnh hưởng quá trình phục hồi của bệnh nhân. Hơn 50 năm qua, trên thế giới đã thực hiện phẫu thuật lấy u thần kinh thính giác theo đường mổ xuyên mê nhĩ, đường mổ này khắc phục được các nhược điểm của đường mổ dưới chẩm năm 2012, các bác sỹ Bệnh viện Việt Đức phối hợp bác sĩ Tai mũi họng đã thực hiện kỹ thuật mổ lấy u thần kinh theo đường mổ xuyên nhĩ.
Từ tháng 9/2012 đến tháng 5/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Đào Trung Dũng cùng cộng sự khoa Tai Mũi Họng Bệnh viện Việt Nam – Cu Ba, Khoa Tai mũi họng Bệnh viện Bạch Mai, Trung tâm phẫu thuật thần kinh Bệnh viện Việt Đức, Trung tâm chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Bạch Mai đã thực hiện nghiên cứu can thiệp, tiến cứu báo cáo đề tài “Kết quả phẫu thuật u thần kinh thính giác theo đường xuyên mê nhĩ”.
Theo tác giả nghiên cứu, có 47 bệnh nhân gồm 18 nam, 30 nữ, độ tuổi trung bình 45,5 (16-70 tuổi) tại khoa Tai Mũi họng Bệnh viện Việt Nam – Cu Ba, Bệnh viện Bạch Mai và Trung tâm PTTK Bệnh viện Việt Đức được chọn tham gia nghiên cứu. Bệnh nhân được chẩn đoán bệnh qua chụp cộng hưởng từ có tiêm gadolinium, chưa được lấy u theo đường mổ xuyên mê nhỉ trước đó, sau mổ có kết quả giải phẫu bệnh xác nhận là u tế bàp schwwann. Tác giả nghiên cứu phân độ bệnh dựa vào phân loại của Jackler bằng cách đo đường kính lớn nhất của khối u trong góc cầu tiểu não (độ 0: u khu trú trong ống tai trong, độ I u nhỏ từ 0-10mm, độ II u vừa từ 11-25mm, độ III u to: 26-40mm; độ IV u khổng lồ kích thước lớn hơn 40mm. Các phẫu thuật viên rạch da sau tai hình chữ C, cách rãnh sau tai 4 cm, bộc lộ mặt ngoài xương chũm: Tiến hành khoét chũm mở rộng, bộc lộ toàn bộ xoang tĩnh mạch xích ma đến vịnh tĩnh mạch cảnh, màng não phần dưới thùy thái dương và trước – sau xoanh tĩnh mạch xích ma. Tháo bỏ xương đe và bít lấp vòi tai bằng mảnh cân cơ thái dương. Khoét mê nhĩ, bộc lộ ống tai trong, phẫu tích dây VII ở phía trên mào ngang, phía trước thanh Bill. Lấy u trong ống tai trong và góc cầu tiểu não bằng dao siêu âm và dao điện lưỡng cực. Sự toàn vẹn của dây VII liên tục được kiểm tra bằng đầu dò thần kinh. Trong trường hợp khối u quá dính vào dây VII và thân não thì phần u này được để lại. Sau khi kết thúc lấy u, tiến hành khâu đóng màng não (vá bằng cân đùi nếu màng não bị khuyết nhiều), bít lấp hố mổ bằng mỡ bụng/đùi và khâu đóng da. Chức năng dây VII được đánh giá theo phân loại của House Brackmann (HB), HBI là bình thường, HBII là liệt nhẹ, HBIII-IV là liệt vừa, HBV-VI là liệt nặng.
BS Dũng báo cáo, trong 47 bệnh nhân có 8 bệnh nhân đã được can thiệp trước đó, gồm 6 ca mổ lấy u đường dưới chẩm, 2 ca xạ phẫu dao Gamma. Về đặc điểm lâm sàng, 91% bệnh nhân có nghe kém, 70% ù tai, 68% rối loạn thăng bằng và 66% đau đầu. Có 2 lý do bệnh nhân đi khám là đau đầu và nghe kém. Chức năng dây VII bình thường chiếm 40/47 ca, có 7 ca liệt mặt ngoại biên trong đó có 5 bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật lấy u đường dưới chẩm, 1 xạ phẫu dao gama. Có 2/3 đối tượng nghiên cứu liệt hầu họng và liệt dây thanh cùng bên có tiền sử được phẫu thuật lấy u đường dưới chẩm.
BS Dũng phân tích, u thần kinh thính giác tai trong là cơ quan dễ bị tổn thương do sự phối hợp nhiều cơ chế như thay đổi lượng protein dịch tai trong, thoái hóa của màng mạch, dây chằng xoắn ốc, tế bào lông trong và lông ngoài, sũng nước mê nhĩ, nghẽn dẫn truyền sợi trục thần kinh ốc tai, giảm cấp máu ốc tai và ứ trệ tuần hoàn do nghe kém từ từ tăng dần ở một bên tai, ít ảnh hưởng lên sức nghe tổng thể nên người bệnh thường không chú ý. Về rối loạn thăng bằng, bệnh nhân cảm thấy chông chênh lúc đi lại, ít khi có cơn chóng mặt thật sự, điều này do đặc điểm tiến triển của u từ từ trung bình dưới 2mm/năm. Lý do nhập viện đau đầu là hay gặp nhất, do khối u kích thích màng não tại chỗ hoặc đã gây tăng áp lực nội sọ.
Kết quả chụp cộng hưởng từ 80,9% bệnh nhân là u to và khổng lồ. Nếu mở đường mổ dưới chẩm cho phép lấy u mọi kích thước trong góc cầu tiểu não và bảo tồn được sức nghe, nhưng nhược điểm là khó lấy đã hết phần u trong ống tai trong, có thể gặp dập não, phù não khi vén bán cầu tiểu não.
Nhóm tác giả nghiên cứu tiến hành mổ theo đường mổ xuyên mê nhĩ. Kết quả cho thấy lấy hết u ở 21/47 trường hợp, trong đó 16 trường hợp là u to, u khổng lồ. Tác giả lưu ý, bản chất u là lành tính, do vậy lấy bỏ khối u để giảm chèn ép nội sọ, khi lấy gần như toàn bộ u thì khoảng 68% sẽ thoái triển, 1 số không phát triển, số còn lại phát triển tốc độ rất chậm, 0,35mm/năm so với 0,91mm/năm ở trường hợp không mổ. Những trường hợp u nhỏ hơn 25mm, xạ phẫu dao gamma có kết quả tốt. Tác giả có nhận xét, mổ u thần kinh thính giác theo đường xuyên mê nhĩ dài thời gian, trung bình 120 phút, có những trường hợp phải hy sinh sức nghe còn lại của bệnh nhân, do vậy đối với những bệnh nhân đã mất sức nghe hoặc khối u to, khổng lồ lựa chọn mổ xuyên mê nhĩ là hợp lý.
Nguyên Khải