Hội chứng thận hư thường gặp, gây nhiều biến chứng do bệnh hoặc do thuốc điều trị. Corticoid là thuốc được sử dụng trong điều trị hội chứng thận hư, thuốc sử dụng liều cao, kéo dài nên có thể gây ra biến chứng. Biến chứng hay gặp là viêm loét dạ dày- tá tràng, do Corticoid ức chế tổng hợp Prostaglandin trên bề mặt dạ dày.

Từ tháng 1/2014 đến tháng 12/2014, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Bích Ngọc cùng cộng sự Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Nghiên cứu tổn thương dạ dày ở bệnh nhân hội chứng thận hư nguyên phát sau điều trị Corticoid”. Tác giả nghiên cứu cho biết có hai mục tiêu, (1) nghiên cứu đặc điểm các biểu hiện tiêu hóa của bệnh nhân hội chứng thận hư nguyên phát sau điều trị Corticoid liều tấn công, (2) mô tả hình ảnh tổn thương trên nội soi dạ dày, hình ảnh mô bệnh học của tổn thương dạ dày ở bệnh nhân hội chứng thận hư nguyên phát sau điều trị Corticoid liều tấn công. Tiêu chuẩn đánh giá tổn thương dựa vào phân loại “Sydney system” năm 1990 và Sydney chỉnh lý năm 1994. Tiêu chuẩn đánh giá tổn thương mô bệnh học của viêm dạ dày theo phân loại của Whitehead 1985.
BS. Bích Ngọc báo cáo, có 54 bệnh nhân được mời tham gia nghiên cứu; được chẩn đoán hội chứng thận hư nguyên phát, sau điều trị Corticoid tấn công 2 tháng có triệu chứng tiêu hóa. Nhóm bệnh nhân có tuổi trung bình là 35,2; trong đó nhóm 36-59 tuổi chiếm 66,7%; nhóm 16-35 tuổi chiếm 22,2%. Nam giới có tỷ lệ 40,7%; nữ giới 59,3%.
Đối với triệu chứng tiêu hóa, đau bụng là triệu chứng thường gặp trong các triệu chứng tiêu hóa. Bệnh nhân có thể đau bụng thành cơn hay đau bụng liên tục; trong nghiên cứu tỷ lệ đau bụng là 87%; triệu chứng nôn, buồn nôn có tỷ lệ 33,3%; rối loạn tiêu hóa có tỷ lệ 14,8%; ợ hơi, ợ chua có tỷ lệ 83,3%.
Đối với đặc điểm tổn thương dạ dày trên hình ảnh nội soi, nghiên cứu cho thấy có 50/54 bệnh nhân tổn thương niêm mạc dạ dày; trong đó tổn thương dạ dày đơn thuần có tỷ lệ 94%; tổn thương ở vị trí hang vị chiếm đa số với 86%.
Tác giả nghiên cứu cho biết, một số nghiên cứu khác trong nước cho thấy điều trị hội chứng thận hư có 3,3% bệnh nhân có viêm dạ dày tá tràng. Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc viêm phù nề xung huyết là chủ yếu với 84,1%; trong đó hang vị là 784%; thân vị là 4% (p<0,05). BS.Ngọc lưu ý, hang vị là nơi tổn thương hay gặp nhiều nhất.
Đối với phân loại và mức độ tổn thương mô bệnh học niêm mạc dạ dày, tác giả nghiên cứu chia tính chất viêm gồm viêm mạn, viêm teo, viêm hoạt động, dị sản ruột và loạnsản. Mỗi tính chất viêm chia ra bình thường, nhẹ, vừa và nặng. Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết là viêm ở mức độ nhẹ, tổn thương mô bệnh học tại hang vị 86%, thân vị 6%.
Tác giả nghiên cứu có kết luận; đối với hình ảnh nội soi, tỷ lệ tổn thương dạ dày là 92,6%; viêm phù nề xung huyết ở hang vị là 74%, thân vị là 4%, toàn bộ dạ dày là 8%. Viêm teo, viêm trợt phẳng, viêm trợt lồi chỉ thấy ở hang vị với tỷ lệ 2-10%. Đối với hình ảnh mô bệnh học, viêm mạn tính mức độ nhẹ và vừa 68%; không hoạt động 30% và viêm hoạt động thể nặng 2%.
Chúng ta biết rằng, hội chứng thận hư là một tập hợp các triệu chứng của bạch cầu thận mạn tính được đặc trưng bằng tình trạng tiểu đạm lượng nhiều lớn hơn hoặc bằng 3,5g/1,73m2 da/24 giờ, giảm protein máu < 60 g/L; giảm albumin máu <30g/L; phù, tăng lipit máu và những rối loạn chuyển hóa khác. Hội chứng thận hư có thể nguyên phát do bệnh lý tại cầu thận hoặc thứ phát do nhiều nguyên nhân gây ra.
Hội chứng thận hư được gọi là thuần túy nếu không kèm theo tiểu máu, không tăng huyết áp, không suy thận thực thể và thường là tiểu đạm chọn lọc (albumin trong nước tiểu chiếm hơn 85% lượng đạm niệu).
Bình thường màng đáy cầu thận mang điện tính âm, kích thước lỗ lọc nhỏ nên không cho đạm đi qua vào nước tiểu. Trong hội chứng thận hư màng đáy cầu thận tổn thương làm tăng tính thấm màng đáy cầu thận và tăng kích thước các lỗ lọc do các sang thương mô học gây ra, gây tiểu đạm rất nhiều. Đây là nguyên nhân gây ra một loạt các hậu quả khác. Việc chẩn đoán xác định thường không khó vì tiêu chuẩn chẩn đoán rõ ràng, điều quan trọng là nên có chẩn đoán giải phẫu bệnh, tìm ra nguyên nhân thứ phát nếu có giúp điều trị tốt và tiên lượng bệnh.
Văn Hanh