[Đăng ngày: 25/10/2017]
Đái tháo đường là bệnh mạn tính, bệnh trở thành vấn đề sức khỏe toàn cầu. Đái tháo đường týp 2 chiếm khoảng 90 – 95% tổng số bệnh nhân đái tháo đường.

Rối loạn chức năng đường tiết niệu dưới ở người bệnh đái tháo đường được ghi nhận vào năm 1935. Rối loạn này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, chất lượng sống người bệnh. Do vậy các chuyên gia đái tháo đường cho rằng cần chẩn đoán sớm, điều trị, phòng ngừa có hiệu quả các rối loạn chức năng đường tiết niệu dưới ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2.

Tuy nhiên thực tế có rất ít nghiên cứu quan tâm bàn luận về vấn đề này. Tác giả nghiên cứu Đỗ Đào Vũ cùng các cộng sự Bệnh viện Bạch Mai, Đại học Y Hà Nội, Trung tâm dự phòng Sức khỏe và đái tháo đường tỉnh Bắc Giang tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang, báo cáo đề tài “Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến rối loạn chức năng đường tiết niệu dưới ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2”.

Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ các bệnh nhân đái tháo đường týp 2 đang điều trị tại khoa Nội tiết và Trung tâm Phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 10/2015 đến tháng 8/2016. Chẩn đoán đái tháo đường týp 2 theo tiêu chuẩn của Hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) năm 2014. Tiêu chuẩn loại trừ là những bệnh nhân bị rối loạn chức năng đường tiết niệu dưới không do biến chứng đái tháo đường týp 2 như bệnh nhân bị dị dạng đường tiết niệu dưới, sỏi bàng quang, hẹp niệu đạo, phì đại lành tính tiền liệt tuyến, u bàng quang, són tiểu gắng sức, tổn thương tủy sống, tổn thương não, nhiễm khuẩn tiết niệu, do thuốc; bệnh nhân có sa sút trí tuệ, rối loạn tâm thần.

Kết quả báo cáo của tác giả nghiên cứu, có 152 đối tượng nghiên cứu đủ điều kiện tự nguyện tham gia nghiên cứu. Tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 61,97; người nhỏ nhất là 41 tuổi, cao nhất 86 tuổi. Nam giới chiếm tỷ lệ 48,03%. Thời gian phát hiện bệnh nhỏ hơn 10 năm có tỷ lệ 15,13%; từ 10 năm trở lên là 84,87%.

Tác giả nghiên cứu phân tích, nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan giữa yếu tố tuổi, giới tính và biến chứng rối loạn chức năng đường tiết niệu dưới. Đối với nhóm đối tượng nghiên cứu phát hiện bệnh đái tháo đường týp 2 trên 10 năm đã làm gia tăng yếu tố nguy cơ bị rối loạn chức năng đường tiết niệu dưới lên gấp 49 lần so với nhóm đối tượng nghiên cứu bị đái tháo đường dưới 10 năm (10, CI 72-223,49; p < 0,05).

Các nghiên cứu trong và ngoài nước đều nhấn mạnh điều này, mối liên quan giữa thời gian phát hiện bệnh và tỷ lệ xuất hiện rối loạn chức năng đường tiết niệu dưới; theo thời gian mắc bệnh; làm tăng nguy cơ bàng quang bị tăng hoạt lên 1,56 lần.

Tác giả nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan giữa chỉ số khối cơ thể BMI với biến chứng rối loạn chức năng đường tiết niệu dưới (p = 0,66). Tuy nhiên ở các nước ở Châu Âu, đối tượng nghiên cứu béo phì và hội chứng chuyển hóa là những yếu tố nguy cơ quan trọng của rối loạn chức năng đường tiết niệu dưới ở bệnh nhân đái tháo đường.

Nghiên cứu cho thấy kết quả, nhóm bệnh nhân có kết quả xét nghiệm chỉ số HbA1C > 7,5% thì có tăng nguy cơ mắc rối loạn chức năng đường tiết niệu dưới (p = 0,002).

Các nghiên cứu quốc tế cho thấy khi HbA1C > 7,9% đối với nam giới; > 7% đối với nữ giới sẽ có nguy cơ bị rối loạn chức năng đường tiết niệu dưới.

Tác giả nghiên cứu lưu ý, rối loạn lipit máu là một yếu tố quan trọng cấu thành nên hội chứng chuyển hóa:  Nhiều nghiên cứu quốc tế chỉ ra vai trò của hội chứng chuyển hóa trong việc dẫn đến các rối loạn chức năng tiết niệu đường tiểu dưới ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2.

Rối loạn chuyển hóa làm tăng nguy cơ lên gần 2 lần đối với rối loạn chức năng đường tiết niệu dưới.
Kết quả trong nghiên cứu của tác giả Đỗ Đào Vũ cho thấy, nhóm bệnh nhân kèm theo rối loạn lipit máu tăng nguy cơ rối loạn chức năng đường tiết niệu dưới gấp gần 6 lần so với nhóm không có rối loạn lipit máu (p < 0,05).

Chúng ta biết rằng, bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có thời gian mắc bệnh lâu, có thể có nhiều biến chứng xảy ra; có thể có nhiều biến chứng cùng một lúc, cũng có thể có một biến chứng nổi bật hơn. Đối với biến chứng ở mạch máu lớn có xơ cứng động mạch ngoại biên làm bệnh nhân đi cách hồi, hoại thư và bất lực ở nam giới. Bệnh động mạch vành, tai biến mạch máu não cũng hay xảy ra. Nhồi máu cơ tim có thể không đau xảy ra trên bệnh nhân đái tháo đường, vì vậy người bệnh phải đo điện tim, Doppler mạch máu định kỳ. 

Đối với biến chứng ở mạch máu nhỏ, chủ yếu ở 3 cơ quan bệnh lý võng mạc, bệnh lý cầu thận và bệnh lý thần kinh. Đối với bệnh lý thận, đây là một trong những nguyên nhân gây tử vong của người bệnh đái tháo đường. Có 4 loại: tình trạng xơ hóa vi cầu thận; tình trạng xơ cứng động mạch tới và động mạch đi khỏi vi cầu thận; Glycogen, mỡ, mucopoly sacharides ứ đọng quanh ống thận; Tại vi cầu thận có thể thấy những đám tròn chất hyalin phản ứng PAS dương tính xuất hiện bờ ngoài vi cầu thận; có khi khi sinh thiết thận đã có tổn thương nhưng trên lâm sàng chức năng thận hoàn toàn bình thường; Còn khi trên lâm sàng có biến chứng thận, lúc đó đã có thay đổi vi thể. Hội chứng Kim melstiel Wilson gồm phù, cao huyết áp, tiểu đạm và suy thận trên bệnh nhân đái tháo đường. Đa số bệnh nhân bị biến chứng thận có thay đổi ở đáy mắt. Khi tiểu đạm > 3g/24 giờ là dấu hiệu tiên lượng bệnh xấu.
Hữu Cao

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 205

Số lượt truy cập: 9290819

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang