Teo và hẹp tá tràng là những tổn thương nội tại gây tắc tá tràng. Tần suất của teo và hẹp tá tràng từ 1/10.000 đến 1/5000 trẻ đẻ sinh sống; là nguyên nhân hàng đầu gây tắc ruột bẩm sinh.

Theo các chuyên gia ngoại nhi, trong thập kỷ qua, phẫu thuật nội soi điều trị teo và hẹp tá tràng được thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Việt Nam có ít nghiên cứu về đề tài này. Ở Bệnh viện Nhi Đồng 2 TP Hồ Chí Minh, mỗi năm có khoảng 20 trường hợp được điều trị. Từ tháng 10/2010 đến tháng 10/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Trần Thanh Trí - Bệnh viện Nhi Đồng 2; Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh đã nghiên cứu hồi cứu tất cả các trường hợp teo và hẹp tá tràng, báo cáo đề tài “Kết quả điều trị teo và hẹp tá tràng ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng 2”. Theo tác giả nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân có chẩn đoán teo hẹp tá tràng chưa từng điều trị phẫu thuật trước đó; có hồ sơ đầy đủ. Kết quả điều trị có 53 trường hợp bệnh nhi mổ nội soi, 53 trường hợp mổ hở và 10 trường hợp mổ nội soi chuyển mổ hở.
BS.Trần Thanh Trí phân tích báo cáo, so với các bệnh nhi được chọn mổ nội soi (63 ca), các bệnh nhi nhóm mổ hở có tuổi thai nhỏ hơn, cân nặng lúc sinh nhẹ hơn, nhiều dị tật đường tiêu hoá kèm theo và nhiều bệnh nhi bị suy dinh dưỡng hơn. BS.Trí cho biết, chính các đặc điểm lâm sàng trước mổ sẽ quyết định việc chọn ngả tiếp cận phẫu thuật từ bác sĩ mổ và bác sĩ gây mê. Đối với những bệnh nhi có nhiều yếu tố nguy cơ thường lựa chọn phương pháp mổ hở. Về đặc điểm lâm sàng, có 63 trường hợp nội soi có tuổi thai khi sinh trung bình là 38 tuần, nhóm mổ hở là 36 tuần; cân nặng trung bình nhóm mổ nội soi là 2,7 kg, nhóm mổ hở là 2,2 kg. Các dị tật đi kèm gồm hội chứng Down (18%); niệu dục (7,5%), tim (58,7%); chi, tiêu hoá ở cả hai nhóm có sự tương đồng về vị trí teo hẹp, loại teo hẹp.
BS.Trí cho biết, thời gian trung bình phẫu thuật nội soi là 145 phút, trường hợp mổ dài nhất là 160 phút; dài hơn so với nhóm phẫu thuật mở là 75 phút (60-95 phút).BS.Trí báo cáo, làm miệng nối bằng mũi rời do vậy thời gian mổ kéo dài hơn. Đối với thời gian bắt đầu cho ăn bằng đường miệng trung bình của đối tượng nghiên cứu nhóm mổ hở là 6 ngày; nhóm mổ nội soi là 4,4 ngày; trong mổ nội soi các phẫu thuật viên ít thao tác trên ruột non nên liệt ruột sau mổ xãy ra ít hơn, nhẹ nhàng hơn và có thể cho trẻ ăn đường miệng sớm hơn.
Đối với thời gian trung bình bắt đầu cho ăn hoàn toàn bằng đường miệng sau phẫu thuật ở nhóm mổ nội soi ngắn hơn so với nhóm mổ hở; nhóm mổ nội soi là 8,3 ngày; nhóm mổ hở là 12,9 ngày. Về thời gian nằm viện ở nhóm mổ hở là 17 ngày, nhóm mổ nội soi là 22 ngày.
BS.Trí báo cáo, có 10 trường hợp có biến chứng ngoại khoa, 43 trường hợp có biến chứng nội khoa. Các biến chứng ngoại khoa theo ngả tiếp cận là nhiễm trùng vết mổ, hẹp miệng nối, chậm hoạt động miệng nối, xì miệng nối, thủng hồi tràng, bỏ sót teo hổng tràng loại I, thoát vị lỗ trocar. Có 07 trường hợp tử vong và xin về vì bệnh nặng, nguyên nhân do xì miệng nối, thủng hồi tràng, viêm phổi nặng, nhiễm trùng huyết.
BS.Trần Thanh Trí có nhận xét, tỷ lệ biến chứng chung ở cả hai nhóm là dưới 10%, tỷ lệ tử vong ở mức thấp; phương pháp nối tá tràng- tá tràng theo Kimura và xén màng ngăn qua mổ nội soi hay mổ hở tại Bệnh viện đã cho kết quả tốt.

Theo các bác sĩ ngoại nhi, tắc tá tràng là nguyên nhân thường gặp của tắc ruột sơ sinh, gặp ở bé trai nhiều hơn bé gái. Bệnh sinh của tắc tá tràng xảy ra do sai sót trong quá trình tái lập đường tiêu hoá, sự phát triển của tuỵ trong những tuần đầu tiên của thai kỳ. Bác sĩ trong hỏi bệnh sẽ quan tâm, tiền căn người mẹ đa ối; nôn ói và không hấp thu trong ngày đầu sau sinh; có thể ói dịch mật tuỳ vị trí tắc trên hay dưới bóng Vater; có đi tiêu phân su không. Bác sĩ khám lâm sàng có vàng da, dấu hiệu mất nước, bụng xẹp, sonde dạ dày ra dịch vàng hoặc xanh; sonde trực tràng không ra phân su, có thể có ít phân su trong tắc không hoàn toàn; cần tìm những dị tật phối hợp như hội chứng Down, dị tật tim, dị dạng hậu môn trực tràng, teo thực quản.
Trên siêu âm bụng thấy hình ảnh bóng đôi, dịch có qua được chỗ tắc trong thể màng ngăn có lổ thông; X-quang bụng không sửa soạn có hình ảnh bóng đôi điển hình; hoặc hình ảnh bóng đôi kèm theo ít hơi trong hỗng tràng trong tắc do màng ngăn có lỗ thông. Thực hiện các xét nghiệm công thức máu, TS-TC, đông máu toàn bộ; ion đồ, đường huyết. Chẩn đoán xác định gồm lâm sàng có nôn ói, chậm hấp thu, bụng xẹp, không tiêu phân su; X-quang bụng và siêu âm có hình ảnh bóng đôi.
Về điều trị phẫu thuật, đây không phải là cấp cứu nên phẫu thuật khi đã bồi hoàn và điều chỉnh tình trạng rối loạn nước điện giải đầy đủ, kiểm soát tình trạng nhiễm trùng. Mục đích phẫu thuật là thiết lập sự lưu thông đường tiêu hoá, phẫu thuật hiện được áp dụng là phương pháp nối tá tràng- tá tràng bên trên hoặc nối Kimura (xẻ ngang túi cùng trên và xẽ dọc túi cùng dưới); trong trường hợp nghi có màng ngăn có thể xử trí bằng cách xén màng ngăn hoặc nối tá- tá tràng như bình thường. sau mổ theo dõi những triệu chứng nôn ói, tình trạng bụng, đi tiêu sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm.
Hữu Cao