Liệu pháp thay thế nội tiết tố sinh dục nam được chỉ định để điều trị suy tuyến sinh dục nam bẩm sinh cũng như suy tuyến sinh dục nam mắc phải.
Theo các chuyên gia lĩnh vực Sức khỏe sinh sản, sử dụng sai hoặc lạm dụng liệu pháp thay thế nội tiết tố sinh dục nam được quan tâm chú ý trong thời gian gần đây. Mặc dù liệu pháp cải thiện được các triệu chứng lâm sàng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh, nhưng liệu pháp có những chống chỉ định, cần phải nhận biết, đánh giá để tối ưu hóa các ưu điểm và hạn chế tối đa các tác dụng phụ của liệu pháp.
Nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Quang Vinh, Nguyễn Phương Hồng- Học Viện Quân Y và Phòng khám Đa khoa Âu Việt đã tham khảo các công trình nghiên cứu liên quan đến suy tuyến sinh dục nam được công bố trong thời gian gần đây báo cáo đề tài nghiên cứu “Liệu pháp thay thế nội tiết tố sinh dục nam trong điều trị suy tuyến sinh dục nam giới”.
.jpg)
Theo tác giả nghiên cứu, thiếu hụt nội tiết tố sinh dục nam là do bệnh lý bẩm sinh như ngừng phát triển tinh hoàn, bệnh di truyền kiểu nhân; hoặc do bệnh lý mắc phải như sau khi bị viêm tinh hoàn do vi rút quai bị, do mãn dục nam. BS.Vinh cho rằng, dù là nguyên nhân do bệnh lý tiên phát (gây ra bởi tổn thương của tinh hoàn) hay do bệnh lý thứ phát (gây ra từ những tổn thương của vùng dưới đồi- tuyến yên), sẽ có các triệu chứng không điển hình, làm ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người bệnh. Các triệu chứng này là biểu hiện các mức độ nặng nhẹ khác nhau của hội chứng suy tuyến sinh dục như các rối loạn ham muốn tình dục, hệ lông rụng nhiều và còn lại ít; các rối loạn của chức năng tình dục như rối loạn cương dương, rối loạn xuất tinh, rối loạn cực khoái….Các triệu chứng rối loạn về cách thức xử sự như buồn nản, suy nhược, dễ cáu gắt; các triệu chứng loãng xương với gãy xương; các thay đổi về chuyển hóa như không dung nạp đường, giảm khối lượng cơ bắp, tăng khối lượng mỡ; người bệnh có thể có cơn ngừng thở khi đang ngủ.
BS.Vinh cho biết, chỉ định liệu pháp thay thế nội tiết tố sinh dục nam dựa vào sự phối hợp các triệu chứng lâm sàng gợi ra sự thiếu hụt nội tiết tố sinh dục nam; dựa vào xét nghiệm tỷ lệ testosteron toàn bộ trong huyết thanh (lấy máu 2 lần vào 8 giờ và 10 giờ sáng) và testosteron khả dụng sinh học (được làm thêm ở những người thừa cân, béo phì, đái tháo đường) đều cho kết quả thấp hơn mức tham chiếu tối thiểu của nam giới khỏe mạnh, bình thường.
Đối với chống chỉ định của liệu pháp, BS.Vinh cho biết đối với ung thư vú là chống chỉ định tuyệt đối; ung thư tuyến tiền liệt là chống chỉ định kinh điển của liệu pháp, BS.Vinh lưu ý liệu pháp không tạo điều kiện thuận lợi để ung thư xuất hiện. Thường trước khi tiến hành chỉ định liệu pháp, người bệnh cần được thăm khám trực tràng và xét nghiệm đo tỷ lệ PSA trong huyết thanh. Khi kết quả thăm trực tràng bất thường hoặc xét nghiệm PSA toàn bộ lớn hơn 10 ng/ml; hoặc PSA tự do/PSA toàn bộ nhỏ hơn 18% phải thực hiện sinh thiết tuyến tiền liệt để xác định chẩn đoán.
Liệu pháp cũng chống chỉ định đối với triệu chứng tăng hồng cầu, xét nghiệm có hematocrit lớn hơn 52%; triệu chứng tăng hồng cầu thường kết hợp với tăng nguy cơ bị các bệnh tim mạch, nhất là bệnh nhân bị suy tim. BS.Vinh lưu ý, khi điều trị cho bệnh nhân bị hội chứng thiếu hụt nội tiết tố sinh dục nam, chỉ kết hợp với một trong hai bệnh đa hồng cầu hoặc các bệnh tim mạch, liệu pháp thay thế nội tiết tố sinh dục nam không làm tăng nguy cơ của các bệnh tim mạch.
Chống chỉ định cần chú ý nữa là bệnh nhân có triệu chứng ngừng thở khi đang ngủ hoặc bệnh nhân có các triệu chứng đường tiểu dưới như tiểu khó, tiểu rắt, tiểu gấp, tiểu không hết bãi. Các triệu chứng đường tiểu dưới được xác định nguyên nhân là do tăng sản lành tính tuyến tiền liệt, đây không là chống chỉ định tuyệt đối của liệu pháp. Tuy nhiên, khi bệnh nhân có các triệu chứng đó, nên cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ của liệu pháp trước khi chỉ định điều trị hội chứng thiếu hụt nội tiết tố sinh dục nam.
BS.Vinh cũng báo cáo, các thay đổi chuyển hóa, sinh ra do sử dụng liệu pháp thay thế nội tiết tố sinh dục nam có thể làm rối loạn cân bằng các chất chống đông. Do vậy, bác sĩ điều trị cần phải theo dõi các chỉ số về chuyển hóa như xét nghiệm máu gồm đường máu, HbA1C nếu bệnh nhân đang điều trị đái tháo đường; xét nghiệm Triglycerid, LHD, HDL, Cholesterol toàn bộ; xét nghiệm GOT, GPT, Gamma GT, Bilirubin toàn bộ ngay khi bắt đầu và trong quá trình điều trị.
BS.Phạm Quang Vinh và cộng sự nhấn mạnh, mặc dù lợi ích của liệu pháp thay thế nội tiết tố sinh dục nam là không bàn cãi, song liệu pháp còn có những chống chỉ định và các tác dụng phụ; những vấn đề này được bàn luận nhiều trong các hội nghị khoa học chuyên ngành thời gian gần đây. BS.Vinh kết luận, liệu pháp thay thế nội tiết tố sinh dục nam được chỉ định cho tất cả nam giới bị suy tuyến sinh dục, nhưng liệu pháp còn có các chống chỉ định tuyệt đối và tương đối mà bác sĩ điều trị cần phải tuân thủ. Các bác sĩ điều trị cần theo dõi, đánh giá liệu pháp trong suốt quá trình điều trị.
Ngô Thanh