Theo các chuyên gia ngoại khoa, phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt, đốt hủy thần kinh giao cảm ngực trên đã trở thành phương pháp điều trị phổ biến cho chứng tăng tiết mồ hôi tay nguyên phát, hiệu quả cải thiện ra nhiều mồ hôi ở lòng bàn tay đạt từ 80% - 100%.
Tuy nhiên, có một số kết quả không mong muốn xuất hiện sau mổ, có trường hợp ra nhiều mồ hôi bù quá mức, hội chứng Claude Bernard – Horner, ra nhiều mồ hôi tái phát hoặc khô lòng bàn tay quá mức, ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Các chuyên gia ngoại khoa cho rằng nguyên nhân tai biến trong mổ, các hậu quả không mong muốn xuất hiện sau mổ là có liên quan đến một số đặc điểm giải phẫu của chuỗi hạch thần kinh giao cảm ngực trên.

Vừa qua, tác giả nghiên cứu Nguyễn Văn Nam cùng cộng sự Bệnh viện Quân Y 103 – Học viện Quân Y đã tiến hành nghiên cứu phẫu tích, đo đạc mô tả chuỗi thần kinh giao cảm của những bệnh nhân bị chứng tăng tiết mồ hôi tay nguyên phát. Đối tượng nghiên cứu có 30 xác ướp gồm 17 bên phải và 13 bên trái lồng ngực; 276 bên lồng ngực của 138 bệnh nhân được phẫu thuật nội soi lồng ngực đốt hủy thần kinh giao cảm ngực trên điều trị chứng tăng tiết mồ hôi tay nguyên phát. Tác giả nghiên cứu cho biết, phương pháp nghiên cứu là phẫu tích kinh điển, quan sát, xác định mô tả một số đặc điểm giải phẫu chuỗi thần kinh giao cảm ngực trên khi chưa bóc lá thành màng phổi. Đo và mô tả một số đặc điểm giải phẫu chuỗi thần kinh giao cảm ngực trên sau khi đã phẫu tích chi tiết; trong mổ mô tả đặc điểm giải phẫu chuỗi hạch thần kinh giao cảm ngực trên trong mổ.
Tác giả Nguyễn Văn Nam phân tích báo cáo cho biết, cung sau các xương sườn trên là mốc giải phẫu quan trọng nhất để xác định chuỗi hạch thần kinh giao cảm ngực trên và các thành phần của nó. Từ đó xác định được chính xác mức độ can thiệp vào chuỗi hạch thần kinh giao cảm ngực trên.
BS Nam nhận xét, không thể xác định được cung sau xương sườn 1 ở 100% các tiêu bản, cung sau xương sườn 2 đến xương sườn 4 đều xác định được ở 100% các tiêu bản. Tác giả giải thích, không thể xác định được xương sườn 1 vì đây là xương sườn đặc biệt, ngắn và cong nhất, nằm chếch, có 2 mặt trên và dưới, bờ trong mỏng khó xác định hơn mặt trong các xương sườn khác. BS Nam lưu ý, xương sườn nhìn thấy trên cùng khi chưa cắt lá thành màng phổi là xương sườn 2; có bác sĩ không chú ý, cho rằng xương sườn nhìn thấy trên cùng là xương sườn 1, do vậy xác định sai vị trí các thành phần của chuỗi hạch thần kinh giao cảm ngực trên, dẫn đến mức độ can thiệp sẽ thấp hơn dự định của các phẫu thuật viên này một mức, kết quả không còn chính xác nữa.
Đối với xác định vị trí các hạch thần kinh giao cảm ngực trên khi chưa bóc lá thành màng phổi, BS Nam có nhận xét, ở trên 100% các tiêu bản xác cũng như tất cả các bên lồng ngực quan sát trong mổ đều không thể xác định chính xác vị trí các hạch thần kinh giao cảm. Khi thực hiện phẫu thuật nội soi lồng ngực với kỹ thuật chỉ cắt ngang thần kinh giao cảm trên các xương sườn mà không cắt lá thành màng phổi và phẫu tích rõ ràng chuỗi hạch thần kinh giao cảm ngực, mặc dù có ống soi với độ phóng đại lớn và có khả năng tiếp cận sát với chuỗi thần kinh giao cảm ngực trên thì không thể xác định chính xác vị trí các hạch thần kinh giao cảm.
BS Nam cho rằng giới hạn thấp nhất của hạch sao hoặc hạch T1 là nằm trên xương sườn 2; Giới hạn cắt thần kinh giao cảm an toàn tránh được hội chứng Hornner sau mổ là không quá bờ trên xương sườn 2; tuy nhiên thực tế có một số trường hợp hạch sao hoặc T1 nằm trên xương sườn 2, mặc dù là cực dưới không phải phần hạch chính, nhưng khi cắt hủy thần kinh giao cảm trên xương sườn 2 vẫn có nguy cơ xuất hiện hội chứng Hornner sau mổ do làm tổn thương hạch sao. Vì vậy giới hạn cắt an toàn không tổn thương hạch sao phải là trên xương sườn 3.
BS Nam cũng có nhận xét về vị trí các hạch T2, T3, T4, hạch ở vị trí cao hơn thì có tỷ lệ nằm trong khoang liên sườn tương ứng cao hơn; tỷ lệ nằm đè lên xương sườn dưới thấp hơn hạch ở vị trí thấp hơn; có thể thấy sự dịch chuyển xuống dưới của các hạch so với các xương sườn tương ứng. BS Nam nhấn mạnh, khi cắt ngang thần kinh giao cảm ngực trên các xương sườn thì thành phần bị cắt, hủy chủ yếu là các thân thần kinh giao cảm chứ không phải là các hạch thần kinh giao cảm, chỉ gặp một tỷ lệ rất thấp là hạch thần kinh giao cảm nhưng cao hơn một mức.
Ra nhiều mồ hôi bù quá mức là hậu quả không mong muốn sau mổ, nguyên nhân do mức độ và phạm vi can thiệp vào chuỗi hạch thần kinh giao cảm ngực trên; vì vậy việc xác định chính xác mức độ, phạm vi can thiệp có vai trò rất quan trọng để giảm biến chứng này. Một số nghiên cứu nhận xét, khi đốt ngang thần kinh giao cảm trên xương sườn 3 và xương sườn 4, tức là giới hạn trên và dưới hạch T3 sẽ có kết quả khả quan nhất là giảm tiết mô hôi ở lòng bàn tay, đồng thời giảm được tỷ lệ các hậu quả không mong muốn.
Tác giả nghiên cứu có kết luận xương sườn nhìn thấy trên cùng khi chưa cắt lá thành màng phổi là xương sườn 2; khi chưa bóc lá thành màng phổi 100% trường hợp đều không thể xác định chính xác vị trí của các hạch thần kinh giao cảm ngực trên. Đối với tỷ lệ nhánh thần kinh nối thêm trên xương sườn 2 (Thần kinh Kuntz) khi chưa bóc lá thành màng phổi, tỷ lệ gặp trên xác là 80% và trong mổ là 58%. Khi đã cắt lá thành màng phổi tỷ lệ này là 56%. Tác giả nghiên cứu cho rằng để đề phòng tăng tiết nhiều mồ hôi tái phát thì phải tìm và cắt nhánh thần kinh Kuntz nằm trên cung sau xương sườn 2. Phạm vi tìm các nhánh này là trong khoảng 20 mm từ chuỗi hạch thần kinh giao cảm ra phía ngoài.
Đức Bảo