Ngừng tuần hoàn là một cấp cứu thường gặp ở cả trong bệnh viện và ngoài bệnh viện, bệnh nhân có tỷ lệ tử vong cao.
.jpg)
Theo các chuyên gia hồi sức cấp cứu, các bệnh nhân sau khi được hồi sinh tim phổi thành công, có tái lập tuần hoàn tự nhiên hầu hết đều bị tổn thương thần kinh do thiếu máu – thiếu oxy. Các tổn thương trong giai đoạn tái tưới máu thường là nguyên nhân dẫn đến tử vong hoặc để lại di chứng cao sau này. Các bệnh nhân hôn mê sau ngừng tuần hoàn được điều trị bằng kỹ thuật kiểm soát thân nhiệt theo đích đã được chứng minh có thể bảo vệ não khỏi các tổn thương sau ngừng tim. Năm 2015, hướng dẫn của Hội Tim mạch Hoa Kỳ đưa ra khuyến cáo kiểm soát thân nhiệt theo đích từ 32 độ C đến 36 độ đối với bệnh nhân hôn mê sau ngừng tuần hoàn ở mức IB, đối với bệnh nhân ngừng tuần hoàn do rung thất và mức IC do các loạn nhịp khác. Các chuyên gia tim mạch cho rằng, khi nhiệt độ cơ thể được hạ xuống thấp, các yếu tố đông máu bị bất hoạt một phần hoặc hoàn toàn(khoảng 10% khi thân nhiệt giảm 1 độ C). Như vậy câu hỏi đặt ra kiểm soát thân nhiệt theo đích ở 33 độ C có thể làm thay đổi hoặc gây ra các rối loạn đông máu không? Từ tháng 5/2015 đến tháng 9/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Văn Chi cùng cộng sự Bệnh viện Bạch Mai tiến hành nghiên cứu tiến cứu, can thiệp, không có nhóm chứng báo cáo đề tài “Nhận xét bước đầu thay đổi về đông máu ở bệnh nhân hôn mê sau ngừng tuần hoàn được điều trị bằng kỹ thuật kiểm soát thân nhiệt theo đích 33 độ C”.
Theo tác giả nghiên cứu, nghiên cứu được tiến hành tại Khoa Cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai, tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân ngừng tuần hoàn được hồi sinh tim phổi thành công, có tái lập tuần hoàn tự nhiên, các bệnh nhân còn hôn mê, không đáp ứng theo lệnh, được đặt ống nội khí quản, thở máy, những bệnh nhân có thời gian từ khi tái lập tuần hoàn tự nhiên đến khi tiến hành hạ thân nhiệt tối đa 6 giờ, những bệnh nhân có huyết động kiểm soát được với huyết áp động mạch trung bình lớn hơn 65 mmHg (có/không dùng thuốc vận mạch); tuổi đối tượng nghiên cứu ≥ 18. Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu là có thân nhiệt dưới 30 độ C thời điểm lúc vào viện, bệnh nhân hôn mê trước khi ngừng tuần hoàn nguyên nhân do quá liều thuốc, chấn thương sọ não, đột quỵ não, những bệnh nhân nhiểm khuẩn nặng, sốc nhiễm khuẩn, phẫu thuật lớn trong vòng 14 ngày, chảy máu nặng khó kiểm soát, rối loạn nhịp tim khó kiểm soát, phụ nữ có thai, bệnh lý mạn tính ở giai đoạn cuối như ung thư, HIV, bệnh nhân nằm một chỗ trên 3 tháng và có những bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.
BS Chi cho biết có 18 bệnh nhân hôn mê sau ngừng tuần hoàn đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, các bệnh nhân được tiến hành các bước giống nhau gồm: được đặt ống nội khí quản, thở máy. Điều chỉnh máy thở theo kết quả khí máu động mạch (duy trì PaCO2 trong giới hạn bình thường, SaO2 ≥ 94%. Điều trị tụt huyết áp, duy trì huyết áp trung bình lớn hơn 65mmHg; Đặt catheser tĩnh mạch trung tâm, catheser làm lạnh, catheser động mạch, đặt đầu dò nhiệt vào thực quản, đặt sonde dạ dày cho ăn, đặt sonde bàng quang. Đo thân nhiệt bằng một sensor nhiệt đặt trong lòng thực quản, kết nối với đầu nhận cảm trên máy hạ thân nhiệt, kết nối catheter làm lạnh với máy hạ thân nhiệt, bệnh nhân có nhồi máu cơ tim ST chênh lên hoặc nghi ngờ nguy cơ cao có nhồi máu cơ tim cấp hội chẩn bác sĩ tim mạch, can thiệp mạch vành, điều trị hạ thân nhiệt sau can thiệp. Ở giai đoạn hạ nhiệt độ, đưa nhiệt độ cơ thể xuống 33 độ C nhanh nhất có thể, giai đoạn duy trì nhiệt độ đích, duy trì 33 độ C trong 24 giờ, ở giai đoạn làm ấm, làm ấm hoặc chậm với tốc độ 0,25 đọ C/giờ, đưa nhiệt độ lên 37 độ C, giai đoạn bình thường hóa thân nhiệt, duy trì 37 độ C trong vòng 24 giờ (T4).
Gia đình của đối tượng nghiên cứu được nghiên cứu viên giải thích kỹ lưỡng và ký đồng ý tham gia nghiên cứu, bệnh nhân được theo dõi, điều trị chuyên khoa sau khi kết thúc nghiên cứu.
BS Chi phân tích kết quả nghiên cứu, báo cáo, đối tượng nghiên cứu đều có tình trạng đông máu bình thường ở thời điểm ban đầu khi chưa kiểm soát thân nhiệt theo đích. Trong nghiên cứu, tiểu cầu có xu hướng giảm dần ở giai đoạn hạ nhiệt độ, duy trì nhiệt độ và giai đoạn làm ấm, thấp nhất ở cuối giai đoạn bình thường hóa thân nhiệt (Tiểu cầu 150 G/L) (p < 0,05). Tuy nhiên không có bệnh nhân nào tiểu cầu giảm dưới 50 G/L, không có bệnh nhân nào cần truyền tiểu cầu.
Nhận xét về thời gian Prothrombin, tác giả nghiên cứu cho biết 18 đối tượng nghiên cứu thời gian prothrombin ban đầu là bình thường (81,29%). Trong cả 4 giai đoạn kiểm soát thân nhiệt theo đích, prothromtin ổn định, theo dõi không có ý nghĩa thống kê. Đối với đặc điểm của thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa, có 5 bệnh nhân nhiễm toan chuyển hóa nặng và/hoặc suy thận cấp được tiến hành lọc máu liên tục (CVVH), các bệnh nhân này có dùng heparin truyền tĩnh mạch để tránh tắc màng lọc (thep protocol lọc máu) vì vậy làm kéo dài thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa. Ở 12 bệnh nhân còn lại, thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa có xu hướng kéo dài khi hạ nhiệt độ, tuy nhiên p > 0,05. Đối với tình trạng chảy máu có 01 bệnh nhân chảy máu mũi, chảy máu chân catheter, xuất huyết tiêu hóa. Những trường hợp này là bệnh nhân ngừng tuần hoàn kéo dài do điện giật, cấp cứu 60 phút có tim đập lại, khi vào viện có tình trạng suy đa tạng (SO FA 16 điểm). Sau khi kết thúc điều trị kiểm soát thân nhiệt theo đích 33 độ C, ý thức bệnh nhân không phục hồi, bệnh nhân tử vong trong bệnh cảnh suy đa tạng. Tác giả nghiên cứu có kết luận, kiểm soát thân nhiệt theo đích 33 độ C đối với bệnh nhân hôn mê sau ngừng tuần hoàn không làm ảnh hưởng đáng kể nào trên đông máu.
Trần Mai