Nhiễm Human Papillomaviruses (HPV) thường gặp nhất trong các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở các nước. Nhiều nghiên cứu cho kết quả có đến trên 50% người trong độ tuổi sinh sản nhiễm từ một đến nhiều type HPV.

Một nghiên cứu của Mỹ năm 2009 – 2010 báo cáo có khoảng 42,5% phụ nữ nhiễm HPV đường âm đạo. Cho đến nay Y học đã phát hiện hơn 100 type HPV, trong đó có khoảng 30-40 type lây truyền qua đường tình dục. Trong số đó có 12 type có nguy cơ cao làm thay đổi niêm mạc cổ tử cung gây ra bệnh ung thư cổ tử cung và liên quan đến các ung thư vùng sinh dục nam và nữ. Các type HPV cụ thể là type 16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58 và 59.
Năm 2013 nhóm tác giả nghiên cứu Lê Duy Toàn cùng cộng sự Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện K Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Mối liên quan giữa nhiễm HPV nguy cơ cao và ung thư cổ tử cung tại Việt Nam”. Đối tượng nghiên cứu là 100 bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung thư cổ tử cung bằng tế bào học và 100 phụ nữ có kết quả xét nghiệm tế bào học bình thường làm nhóm chứng tại Bệnh viện K. Với phương pháp nghiên cứu bệnh chứng tác giả nghiên cứu mong muốn kiểm định mối liên quan giữa nhiễm HPV và ung thư cổ tử cung. DNA được tách chiết từ mẫu bệnh phẩm cổ tử cung bằng bộ test Qiagen.
Theo phân tích của tác giả nghiên cứu Lê Duy Toàn, có mối liên quan rất chặt chẽ giữa nhiễm HPV và ung thư cổ tử cung. Những người có nhiễm HPV có nguy cơ nhiễm ung thư cổ tử cung cao gấp 495,4 lần so với những người không nhiễm HPV. Trong số 100 bệnh nhân ung thư cổ tử cung có 91 bệnh nhân có nhiễm HPV(91%). Có 46% bệnh nhân ung thư cổ tử cung nhiễm HPV type 16 và 19% nhiễm type 18. Đối với nhiễm HPV týp 11 chiếm 12%. Còn các týp 6, 33, 58 có tỷ lệ từ 2-3%. Tác giả cũng lưu ý có 5% đối tượng nghiên cứu đồng nhiễm 2 loại HPV. Tác giả nghiên cứu cho biết, có mối liên quan rất chặt chẽ giữa nhiễm HPV type 16 và ung thư cổ tử cung. Những người có nhiễm HPV type 16 có nguy cơ ung thư cổ tử cung cao gấp 43,5 lần so với người không nhiễm HPV. Còn đối với HPV type 18, tỷ lệ nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cũng cao gấp nhiều lần so với người không nhiễm HPV.
Theo BS Lê Quang Thanh, Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, TP Hồ Chí Minh, trên thế giới mỗi 2 phút có một phụ nữ tử vong vì ung thư cổ tử cung; tại Việt Nam mỗi ngày có 7 phụ nữ tử vong vì ung thư cổ tử cung.
Hiện nay tỷ lệ được sàng lọc ung thư cổ tử cung ở phụ nữ tuổi 18-69 khoảng 5%; nhiều bệnh viện tuyến huyện chưa xét nghiệm được tế bào cổ tử cung; đối với xét nghiệm HPV DNA chỉ đang được áp dụng tại các Bệnh viện chuyên ngành sản phụ khoa. Một kết quả nghiên cứu tại 3 Bệnh viện phụ sản Trung ương, Bệnh viện Từ Dũ và Bệnh viện Hùng Vương, TP Hồ Chí Minh với cỡ mẫu 900 phụ nữ 18-45 tuổi; cho thấy có 88% các ca lây nhiễm HPV trong độ tuổi 27-45.
BS Lê Quang Thanh cho biết, xét nghiệm DNA HPV là một xét nghiệm có độ nhạy cao trong phát hiện tổn thương cổ tử cung; bệnh phẩm do cán bộ y tế hoặc chính người phụ nữ lấy; Đối với tầm soát sàng lọc xét nghiệm HPV phụ nữ nên làm ở độ tuổi 30, 35, 40, 50 và 60. Xét nghiệm HPV DNA là xét nghiệm sàng lọc đầu tay, theo dõi bằng xét nghiệm tế bào học với những trường hợp có dương tính với HPV. Ở Úc, tuổi bắt đầu tầm soát HPV là 25 tuổi, làm lại sau 5 năm. Đối với những phụ nữ có xét nghiệm HPV dương tính đối với typ 16, 18 sẽ được tiến hành soi cổ tử cung.
Hiện nay theo các chuyên gia xét nghiệm HPV DNA đầu tay có thể thay thế cho các xét nghiệm hiện tại để tầm soát nguy cơ ung thư cổ tử cung ở phụ nữ từ 25 tuổi trở lên. Những phụ nữ có kết quả âm tính có thể tầm soát lại sau ít nhất 3 năm. Nếu kết quả HPV dương tính với một trong 12 nhóm HPV nguy cơ cao, phụ nữ đó cần được làm xét nghiệm tế bào học kiểm tra.
Đối với ung thư cổ tử cung, rong huyết hay xuất huyết âm đạo bất thường không vào thời kỳ kinh; hoặc sau quan hệ tình dục thấy có vài giọt máu nên đi khám tầm soát để phát hiện bệnh ngay khi còn sớm. Có nhiều người do chủ quan thấy vẫn khỏe mạnh, ăn ngủ được, nên khi đến bệnh viện đã ở giai đoạn muộn. Lúc này, máu ra âm hộ nhiều hơn, huyết trắng trộn lẫn với máu; người bệnh gầy gò, rên rỉ vì đau.
Bác sĩ sẽ khám sinh thiết tổn thương, xếp giai đoạn bệnh. Nếu là giai đoạn O tức là ung thư tại chỗ hay còn gọi là tiền ung thư; giai đoạn I ung thư khu trú trong cổ tử cung; giai đoạn 2 ung thư lan lên âm đạo; giai đoạn 4 ung thư lan đến bàng quang, trực tràng hoặc đi xa đến cơ quan phổi, gan, xương.
Mai Trang