
Việt Nam đứng thứ 14/27 quốc gia có gánh nặng bệnh lao kháng đa thuốc trên toàn thế giới. Công tác quản lý, điều trị lao cho bệnh nhân đồng nhiễm lao và HIV hiện đang đối mặt với các khó khăn và các thông tin về kháng thuốc lao ở những bệnh nhân đồng nhiễm lao/HIV còn chưa được cập nhật đầy đủ.
Theo tác giả Trịnh Quỳnh Mai- Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương Hà Nội, đánh giá tỷ lệ kháng thuốc lao hàng 1 ở bệnh nhân đồng nhiễm lao/HIV tại Việt Nam và phát hiện các đột biến liên quan đến kháng thuốc lao ở vi khuẩn lao M.tuberculosis (MTB) là vấn đề rất quan tâm. Tác giả nghiên cứu cùng cộng sự đã phân tích hồi cứu 200 chủng MTB được phân lập từ bệnh nhân nhiễm HIV tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch từ năm 2009-2014. Tác giả nghiên cứu phân tích kiểu hình vi khuẩn lao kháng thuốc bằng xét nghiệm tính nhạy cảm thuốc kháng lao hàng 1 gồm Isoniazid (INH), Rifampicin (RMP), Ethambutol (RMB) và Streptomycin (SM).
Tác giả Trịnh Quỳnh Mai báo cáo kết quả có 40,2% mẫu nghiên cứu kháng bất kỳ loại thuốc lao nào; tỷ lệ kháng đa thuốc là 8,5%; trong đó có 5% kháng với tất cả 04 loại thuốc nêu trên. Đối với chủng kháng INH, tỷ lệ đột biến gen tại gen KatG là 100% và gen inhA (bao gồm inhA promoter) là 24,4%. Đối với kháng RMP, 94% các đột biến tại gen ropB xuất hiện ở vùng kháng Rifampicin cao (81bp Rifampicin Resistance Defining Region- RRDR) và phần lớn các đột biến được tìm thấy ở codom 531. Đối với kháng SM, có 75% đột biến gen rrs hoặc rpsL, trong đó 60% là ở gen rpsL, chủ yếu ở codon 43 và 88. Đối với kháng EMB, đột biến gen embB được tìm thấy ở tất cả các chủng lao kháng thuốc. 100% các chủng lao kháng đa thuốc có đột biến ở vùng RRDR đều có đột biến tại codon 315 ở gen katG (77,5%) hoặc C-15T ở gebn inhA promoter (24,4%), cho thấy mức độ kháng thuốc INH cao. Dòng vi khuẩn chiếm ưu thế là Beijing (49%) và EAI (35%). Các chủng vi khuẩn MTB ở bệnh nhân đồng nhiễm lao/HIV có tỷ lệ kháng thuốc cao. Tỷ lệ kháng thuốc cao ở các chủng vi khuẩn MTB phân lập từ bệnh nhân HIV dương tính, trong đó mức độ kháng INH cao. Tỷ lệ lớn các trường hợp kháng đa thuốc có thể phát hiện bằng X-pert MTB RIF®.
Một tác giả khác là Nguyễn Thị Bích Yến cùng cộng sự Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch TP.Hồ Chí Minh đã tiến hành nghiên cứu tình hình chẩn đoán và điều trị lao/HIV tại TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2006-2014. Theo báo cáo của tác giả Nguyễn Thị Bích Yến, từ năm 2006-2014, trong số 112.338 bệnh nhân lao đăng ký điều trị trong Chương trình chống lao quốc gia tại TP.Hồ Chí Minh, có 107.386 bệnh nhân (95,6%) biết về tình trạng nhiễm HIV của mình. Tỷ lệ bệnh nhân lao có HIV dương tính là 12,2% (13.729 bệnh nhân), giảm dần qua các năm từ 19% (2006) còn 6,9% (2014). Tỷ lệ bệnh nhân lao nhiễm mới HIV đã giảm gần 4 lần trong vòng 9 năm qua (từ 8,3% năm 2006 xuống còn 2,2% năm 2014).
Sàng lọc lao trong số người nhiễm HIV được thực hiện từ năm 2008 và hiện nay đã trở thành thường quy tại các phòng khám ngoại trú ở TP.Hồ Chí Minh. Tỷ lệ phát hiện lao ở bệnh nhân nhiễm HIV có triệu chứng nghi lao ngày càng giảm dần, từ 32% năm 2008 xuống còn 5% năm 2014 bệnh nhân trên toàn thành phố. Tỷ lệ bệnh nhân lao/HIV được điều trị ARV đã tăng gấp 9 lần, từ 9% (2006) lên 83%(2014).

Kết quả điều trị lao cho người đồng nhiễm HIV cũng được cải thiện, tỷ lệ lành bệnh tăng 65% (2006) lên 72%(2013), tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân lao/HIV trong quá trình điều trị lao đã giảm gần 2 lần (17,3% năm 2006 xuống 9,5% năm 2013) ở TP.Hồ Chí Minh. Nghiên cứu này đã cho thấy tình hình nhiễm HIV trong bệnh nhân lao và mắc lao trong số bệnh nhân nhiễm HIV tại TP.Hồ Chí Minh giảm dần từ 2006- 2014. Bệnh nhân lao nhiễm HIV được nhận ART sớm và bệnh nhân nhiễm HIV được chẩn đoán lao sớm có thể cải thiện được kết quả điều trị lao. Cần có thêm nhiều cố gắng để duy trì và làm gia tăng hơn nữa sự tiếp cận ART cho bệnh nhân đồng nhiễm lao/HIV.
Còn đối với nghiên cứu của tác giả Tô Mỹ Hương cùng cộng sự Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch TP.Hồ Chí Minh về tỷ lệ tử vong ở trẻ em nhiễm HIV có triệu chứng nghi lao được thực hiện tại các Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, Bệnh viện Nhi Đồng 1, Bệnh viện Nhi Đồng 2 TP.Hồ Chí Minh. Báo cáo nghiên cứu cho thấy có 111 trẻ được thu dung vào nghiên cứu đoàn hệ; 59 nam (53,2%), tuổi trung bình là 5.3 (IQR 1.6-8.8), tỷ lệ CD4 trung bình là 7,6% (IQR 1.2-18.7), tải lượng vi rút trung bình là 5.5 (IQR 4.8-61.) log 10 copies/mL; có 29 trẻ (26,1%) đã được điều trị ARV với thời gian trung bình là 2 tháng (IQR 0.9-19.9) tại thời điểm thu dung nghiên cứu. Có 61 trẻ (55%) đã được khẳng định lao bằng xét nghiệm vi trùng học và đã được khởi động điều trị lao (thời gian trung bình 7 ngày [IQR: 3-11] sau khi thu dung vào nghiên cứu). Trong số 82 trẻ chưa được điều trị ARV tại thời điểm thu dung vào nghiên cứu, có 67 trẻ (81,7%) được khởi động điều trị ARV với thời gian trung bình là 14 ngày sau khi thu dung vào nghiên cứu. Có 06 trẻ (5,4%) rút khỏi nghiên cứu và 19 trẻ (17,1%) tử vong. Tử vong chung 3,6/100 người – tháng (PM) (95%CI:26,9-66,6). Ở những trẻ chưa điều trị ARV lúc thu nhận, tỷ lệ tử vong giảm từ 2,7/100 PM (95% CI:11,5-40,5) xuống còn 1,5 (95% CI:0,6-3,4) sau khi điều trị ARV. Tác giả nghiên cứu kết luận các trẻ em này được thu dung vào nghiên cứu ở giai đoạn cuối của nhiễm HIV. Tỷ lệ tử vong rất cao trước khi điều trị ARV và vẫn còn cao trong 6 tháng đầu có nghi mắc lao, mặc dù đã điều trị lao sớm và tiếp cận ARV. Việc tiếp cận sớm ARV và cải thiện phương pháp chẩn đoán lao sớm có thể làm giảm tỷ lệ tử vong trong tương lai.
Văn Hanh