[Đăng ngày: 30/05/2017]
Hiện nay, công tác điều trị đối với ung thư tiến triển, di căn gặp khó khăn về nhiều mặt. Tỷ lệ đáp ứng điều trị rất thấp, khoảng 10-15%. Mục tiêu điều trị bệnh ung thư là điều trị khỏi bệnh đã đạt được phần nào đối với những bệnh máu ác tính, tuy nhiên đối với các ung thư tạng đặc kết quả còn rất khiêm tốn.

Điều trị bệnh ung thư cần phải có những dược phẩm giá thành cao, thời gian điều trị lâu dài và có thể gây độc tính nhiều cho người bệnh. Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh đang được kỳ vọng đóng vai trò chủ đạo trong việc đánh giá đáp ứng điều trị bệnh ung thư. Đánh giá đáp ứng điều trị giúp có thể ước tính thời gian sống thêm toàn bộ cũng như thời gian sống thêm không bệnh. Một phương pháp tối ưu để đánh giá đáp ứng điều trị cần phải chính xác, dễ sử dụng và được chấp nhận rộng rãi. Đánh giá chính xác đáp ứng điều trị ở giai đoạn sớm rất cần thiết, nó đem lại những thông tin hiệu quả về việc sử dụng thuốc, tránh được những độc tính và giảm gánh nặng tài chính cho người bệnh.

Năm 1980, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa ra 04 tiêu chuẩn đáp ứng với điều trị bệnh ung thư: đáp ứng hoàn toàn (tổn thương hoàn toàn biến mất); đáp ứng một phần (giảm hơn 50% kích thước đo được); bệnh tiến triển (tăng hơn 25% kích thước đo được); bệnh ổn định (kích thước tổn thương giảm trong khoảng từ 25-50%). Một nhược điểm của cách đánh giá này là không có hướng dẫn chi tiết về số lượng, kích thước tổn thương và phương pháp chẩn đoán hình ảnh được khuyến cáo. Một nhược điểm khác nữa là chỉ cần có sai số nhỏ trong đo đạc có thể dẫn đến sai số lớn trong đánh giá kết quả đáp ứng với điều trị.

Năm 2000, tiêu chuẩn Recist được công bố dựa trên kết quả nghiên cứu của cơ quan điều trị ung thư Châu Âu (EORTC), Viện nghiên cứu Ung thư Mỹ và Canada. Tiêu chuẩn Recist đã đưa ra định nghĩa về sự tiến triển của bệnh, định nghĩa rõ về kích thước tối thiểu của tổn thương đo được, số lượng tổn thương cần theo dõi, phương pháp chẩn đoán hình ảnh được khuyến cáo sử dụng, đo kích thước một bình diện trên mặt phẳng cắt ngang. Tổn thương đích được lựa chọn và kích thước phù hợp trong việc đo lường, được dùng để đánh giá đáp ứng điều trị bệnh. Recist cho phép đánh giá 10 tổn thương đích/ bệnh nhân. Đáp ứng điều trị được chia 4 loại: đáp ứng hoàn toàn (tổn thương hoàn toàn biến mất); đáp ứng một phần (giảm 30% tổng kích thước lớn nhất của tổn thương đích); tổn thương tiến triển (tăng 20% tổng kích thước lớn nhất của tổn thương đích và/hoặc xuất hiện tổn thương mới và/hoặc tiến triển tổn thương không đích); tổn thương ổn định (kích thước giảm chưa đạt mức 30% hoặc dưới 20%).

Theo tác giả Lê Ngọc Hà- Khoa Y học hạt nhân- Bệnh viện Trung ương Quân Đội 108, Recist có những điểm yếu đó là số lượng tổn thương được đánh giá còn dàn trải (tối đa lên đến 10); không đề cập đến hạch di căn, chưa áp dụng được với những phương pháp chẩn đoán mới như FDG PET/CT; MRI và đánh giá đáp ứng sau khi điều trị đích. Tiêu chuẩn Recist 1.0 chỉ áp dụng đo kích thước được tổn thương hình cầu, trong thực tế không có nhiều tổn thương có hình dạng này. Vì vậy, phiên bản mới ra đời đó là Recist 1.1 với đặc điểm: giảm số lượng tổn thương đích từ 10 xuống còn 5; hạch di căn được coi là tổn thương đích; kích thước trục ngắn nhất được tính làm thước đo đáp ứng với điều trị, với kích thước lớn hơn 15mm hạch sẽ được coi là hạch bệnh lý. Tổn thương đo được trên CT có kích thước lớn hơn 10mm, phim Xquang ngực là 20mm. Hạch di căn đo được có kích thước lớn hơn 15mm; nếu nhỏ hơn không cần đo, chỉ cần chỉ ra sự có mặt tổn thương hay không. Recist 1.1 khuyến cáo sử dụng CT là phương pháp có độ chính xác cao nhất để đo kích thước tổn thương. Lần đánh giá căn bản phải được thực hiện trước khi điều trị không quá 4 tuần, phải dùng cùng một kỹ thuật trước cũng như sau điều trị để đánh giá, theo dõi.

BS.Lê Ngọc Hà chia sẻ, tiêu chuẩn đánh giá dựa vào hình ảnh giải phẫu (Recist) cũng có những hạn chế, đó là sử dụng kích thước để đánh giá mà không cần đề cập đến tỷ trọng của khối u mà tỷ trọng khối u làm thay đổi cách đo kích thước khối u; như vậy việc áp dụng Recist có thể bị sai lệch. Bên cạnh đó, Recist cũng không đánh giá đúng những loại ung thư điều trị bằng thuốc ức chế sự phát triển của tế bào, ví dụ thuốc bevacizumab trong điều trị ung thư đại trực tràng; thuốc sorafemib trong điều trị ung thư gan. Đánh giá thể tích hoặc chức năng dựa vào cộng hưởng từ động (Dynamic contrast- enhanced-DCE) hoặc PDG PET/CT không được đề cập trong Recist. Chính vì vậy, cần có tìm hiểu thêm các tiêu chuẩn mới, sử dụng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh ở mức phân tử là hết sức cần thiết.

Anh Huy
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 58

Số lượt truy cập: 9370674

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang