Bệnh lao và HIV/AIDS đang là thảm họa kép của nhân loại. Sự kết hợp giữa lao và HIV là mối quan tâm trên thế giới. Tỷ lệ mắc lao tại Việt Nam ở mức cao 218/100.000 dân. Tỷ lệ đồng nhiễm lao và HIV khoảng 10%. Tử vong chính của HIV là do lao, ước tính 2.100 trường hợp.

Tác giả nghiên cứu Lê Văn Học cùng cộng sự tiến hành nghiên cứu đề tài mô tả sự hiểu biết của bệnh lao ở những bệnh nhân HIV/AIDS mắc lao đang điều trị tại Bệnh viện Nhân Ái TP. Hồ Chí Minh. Đây là nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 67 bệnh nhân HIV/AIDS mắc lao; độ tuổi 18-45 chiếm gần 91%; nam giới có tỷ lệ 79%. Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức chung đúng chiếm 70%; thực hành chung đúng chiếm 73%. Tác giả nghiên cứu khuyến nghị cần tăng cường truyền thông phòng ngừa và phát hiện bệnh lao đối với những bệnh nhân HIV/AIDS.
Nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Kim Cương cùng cộng sự Bộ môn lao và bệnh phổi- trường Đại học Y Hà Nội tiến hành nghiên cứu đề tài “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, giá trị của xét nghiệm gen Xpert MTB/RIF trong chẩn đoán lao phổi AFB âm tính ở người nhiễm HIV. Theo tác giả nghiên cứu, lao phổi ở người nhiễm HIV không điển hình, tỷ lệ tìm thấy vi khuẩn lao thấp khoảng 16-40%. Gen Xpert là kỹ thuật sinh học phân tử được Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo sử dụng để chẩn đoán lao. Tác giả Nguyễn Kim Cương đã nghiên cứu mô tả đối với 75 trường hợp được chẩn đoán lao AFB âm tính ở người nhiễm HIV; so sánh các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, Xpert trong chẩn đoán lao, chẩn đoán kháng với Rifampicin. Kết quả nghiên cứu cho thấy độ nhạy (Se), độ đặc hiệu (Sp) là 85,1% và 83,3% đối với triệu chứng ho bất cứ khi nào. Độ nhạy (Se) đạt 88,7% và độ đặc hiệu (Sp) đạt 83,3% đối với triệu chứng sốt bất cứ khi nào. Độ nhạy của Xpert đạt 62,2%; độ đặc hiệu 52%. Độ nhạy xác định kháng Rifampicin 100%, độ đặc hiệu 97,5%. Tác giả nghiên cứu có kết luận các triệu chứng lâm sàng nghi ngờ lao ở người nhiễm HIV được sử dụng hiện nay vẫn có giá trị trong chẩn đoán lao. Độ nhạy, độ đặc hiệu của xét nghiệm gen-Xpert MTB/RTF bằng với độ nhạy, độ đặc hiệu của nuôi cấy môi trường lỏng ở những bệnh phẩm đàm không tìm thấy vi khuẩn lao bằng nhuộm soi trực tiếp.
Một nghiên cứu khác của tác giả Bùi Đức Dương- Cục Phòng chống HIV/AIDS Bộ Y tế về hiệu quả và tác động của sàng lọc liên tục và điều trị dự phòng lao bằng Isoniazid cho người nhiễm HIV tại Việt Nam.

Theo TS.Bùi Đức Dương, Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra khuyến cáo sàng lọc lao cho các bệnh nhân nhiễm HIV ở mỗi lần khám. Sàng lọc lao được thực hiện khi đối tượng đăng ký tham gia nghiên cứu, mỗi lần khám tiếp theo trong một năm. Nghiên cứu được thực hiện tại 04 phòng khám, đối tượng nghiên cứu chưa được điều trị ARV. Những bệnh nhân có ho, sốt hoặc vã mồ hôi đêm trên 3 tuần được soi đàm, chụp X quang phổi hoặc cấy đàm. Nếu mắc lao, bệnh nhân không phải sàng lọc lao lần sau. Có 789 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, trong đó có 362 người (46%) có sàng lọc lao dương tính và 48 người (13%) được chẩn đoán mắc bệnh lao khi đăng ký nghiên cứu. Trong 728 bệnh nhân còn lại có 594 người (82%) được sàng lọc lao hơn 1 lần và có 244 người (34%) được sàng lọc lao 04 lần. Theo thời gian sàng lọc dương tính giảm từ 46% còn 3% và bệnh nhân có sàng lọc dương tính được chẩn đoán lao giảm từ 13% còn 0%. Có 98 bệnh nhân được chẩn đoán lao tương ứng tỷ lệ lao hiện mắc trong năm là 12.421/100.000. Tỷ lệ lao mới mắc ở bệnh nhân nhiễm HIV cao gấp 38 lần so với dân số chung Việt Nam (323/100.000). Tác giả nghiên cứu khuyến nghị cần cải thiện lồng ghép sàng lọc lao, điều trị sớm ARV và Isoniazid để giảm tử vong do lao và tỷ lệ lao mới mắc ở bệnh nhân nhiễm HIV.
Theo tác giả Lê Hùng Thái- Trung tâm Y tế Dự phòng và kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ cùng cộng sự Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch TP.Hồ Chí Minh cho rằng ở TP. Hồ Chí Minh, bệnh nhân lao chiếm 16% so với cả nước; đối với số ca nhiễm HIV ở TP.Hồ Chí Minh chiếm tỷ lệ 21% so với cả nước. Qua phân tích kết quả điều trị bệnh lao-HIV ở 24 phòng khám lao ở Quận, huyện trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh cho thấy có 51.725 bệnh nhân đăng ký tham gia nghiên cứu năm 2010-2013. Có 50,7% bệnh nhân điều trị khỏi bệnh; có 3,8% bệnh nhân điều trị thất bại; 3,4% bệnh nhân tử vong và 3,3% bệnh nhân bỏ điều trị. Nhiễm HIV chung ở bệnh nhân lao là 10,7%; giảm từ 13% ở năm 2010 xuống 8,9% ở năm 2013. Theo tác giả nghiên cứu, cần có chiến lược tích cực hơn để cải thiện kết quả điều trị lao của bệnh nhân HIV để ngày càng nâng cao sức khỏe cho người bệnh tốt hơn.
Anh Duy