Ung thư nội mạc tử cung là một loại ung thư thường gặp ở đường sinh dục nữ, chiếm 90% ung thư ở thân tử cung và chiếm 6-8% trong tổng số ung thư ở nữ giới.

Theo tác giả Nguyễn Quang Trung- Bệnh viện Ung bướu Nghệ An, tỷ lệ mới mắc ung thư nội mạc tử cung ở Việt Nam là 5,4/100.000 phụ nữ; tỷ lệ tử vong là 1,8/100.000 phụ nữ. Bệnh gặp chủ yếu ở phụ nữ sau mãn kinh (tỷ lệ 75%); độ tuổi từ 50-59. Nếu phát hiện bệnh sớm tiên lượng khá tốt, điều trị mang lại kết quả cao.
Ở giai đoạn bệnh sớm (giai đoạn I,II theo phân loại của FIGO 2009), phẫu thuật là phương pháp điều trị cơ bản, kèm theo có thể kết hợp xạ trị, tỷ lệ sống thêm sau 5 năm là 85-90%. Nếu bệnh ở giai đoạn III,IV thì việc điều trị gặp khó khăn hơn, cần phối hợp nhiều phương pháp phẫu thuật kết hợp xạ trị hoặc kết hợp hóa chất hoặc nội tiết; tỷ lệ sống còn sau 5 năm là 40%, ở giai đoạn IV tỷ lệ giảm còn 5%.
Từ tháng 1/2011 đến tháng 12/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Quang Trung cùng cộng sự Bệnh viện Ung bướu Nghệ An tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá kết quả điều trị ung thư nội mạc tử cung giai đoạn III,IV tại Bệnh viện”. Đối tượng nghiên cứu nhằm vào những bệnh nhân ở giai đoạn III và IV, đây là nhóm đối tượng còn ít các nghiên cứu quan tâm.
Theo phân tích của BS.Trung, kết quả nghiên cứu cho thấy có 46 bệnh nhân đủ điều kiện tham gia nghiên cứu; độ tuổi trung bình là 58,5; nhóm tuổi 60-69 tuổi có tỷ lệ gần 30%; nhóm tuổi 50-59 có tỷ lệ cao nhất với 50%. Nhóm dưới 40 tuổi chiếm tỷ lệ 2,2%; có 82% đối tượng nghiên cứu đã mãn kinh.
Về týp ung thư biểu mô tuyến dạng nội mạc là týp mô học chiếm tỷ lệ cao với 82,6%. BS.Trung cho biết, ung thư càng kém biệt hóa thì tiên lượng càng kém, vì vậy thường phát hiện ở giai đoạn muộn. Trong nghiên cứu, bệnh nhân có độ mô học kém biệt hóa (độ III) chiếm tỷ lệ 51%; bệnh nhân có độ biệt hóa vừa (độ II) chiếm tỷ lệ 42,3%.
Về xâm lấn cơ, có 84,8% số trường hợp có ung thư xâm lấn quá một nửa lớp cơ tử cung; đây là yếu tố nguy cơ bệnh lan tràn ra vùng chậu và di căn hạch. BS.Trung báo cáo có 52% đối tượng nghiên cứu di căn hạch chậu, trong đó có 02 trường hợp kèm di căn hạch cạnh động mạch chủ bụng.
Về kết quả điều trị, BS.Trung chia sẻ, phẫu thuật cắt tử cung mở rộng kèm vét hạch chậu được thực hiện cho 43/46 người bệnh (93,5%). Trong đó có 03 trường hợp được vét hạch cạnh động mạch chủ bụng. Có 56,5% bệnh nhân được xạ trị bổ trợ đơn thuần sau mổ, 26% bệnh nhân được phối hợp cả xạ trị và hóa trị sau mổ. Có 08 bệnh nhân chỉ phẫu thuật mà không điều trị bổ trợ do người bệnh từ chối dịch vụ. Theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả, nhờ có sự điều trị cả hai phương pháp hóa chất và xạ trị, người bệnh sống thêm toàn bộ là 10,3 năm; cao hơn nhóm điều trị bổ trợ sau mổ chỉ xạ trị là 7,1 năm; chỉ điều trị hóa trị bổ trợ là 5,6 năm. Vì vậy, đối với những bệnh nhân ung thư nội mạc tử cung giai đoạn III,IV; phác đồ điều trị nên phối hợp phẫu thuật và cả hóa trị, xạ trị.
BS.Trung lưu ý, độ mô học, độ xâm lấn cơ tử cung là yếu tố tiên lượng trong ung thư nội mạc tử cung, nó là yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sống thêm toàn bộ cũng như tỷ lệ tái phát và di căn ung thư. Kết quả nghiên cứu cho thấy u càng kém biệt hóa sẽ càng xâm lấn cơ tử cung, di căn hạch chậu và tái phát tại chỗ cũng như di căn xa. Di căn hạch chậu là yếu tố tiên lượng quan trọng, ung thư di căn hạch chậu liên quan đến mô học, mức độ xâm lấn cơ tử cung .
Có một sự khác biệt rõ về thời gian sống thêm, ở những bệnh nhân giai đoạn III thời gian sống thêm trong nghiên cứu là 45,9 tháng; bệnh nhân ở giai đoạn IV thời gian sống thêm chỉ còn 11,2 tháng. Như vậy, ở giai đoạn III vẫn có tiên lượng khá tốt, nhưng sang giai đoạn IV bệnh đã thật sự xấu. BS.Trung cho rằng, người bệnh cần kiên trì theo đủ liệu trình điều trị thì cơ hội kéo dài thời gian sống cho người bệnh dù ở giai đoạn muộn vẫn là khá cao. Sự tích cực trong lựa chọn phác đồ triệt căn tối ưu nhất có thể; cộng thêm sự động viên kích lệ giúp người bệnh tuân thủ, tích cực tốt tham gia liệu trình điều trị phối hợp, tránh thái độ buông xuôi sẽ có vai trò quan trọng trong việc cải thiện triệu chứng bệnh, kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân.
Tường Huân