
Chấn thương cột sống cổ là những tổn thương về xương đốt sống, đĩa đệm, tủy sống và hệ thống dây chằng quanh đốt sống vùng cổ.
Theo thống kê, tại Việt Nam chấn thương cột sống cổ chiếm từ 2-5% của bệnh lý chấn thương đầu mặt cổ, trong đó có khoảng 10% bệnh nhân bị chấn thương tủy cổ mà trên phim X-quang thường quy không phát hiện ra tổn thương xuơng. Tỷ lệ tổn thương thần kinh do chấn thương cột sống cổ rất cao từ 60-70%, trong đó tổn thương tủy hoàn toàn không tiến triển sau điều trị khoảng 50%. Chấn thương cột sống cổ từ C3-C7 là chấn thương cột sống cổ thấp, chiếm tỷ lệ nhiều nhất hơn 80%. Chấn thương cột sống cổ thấp với tổn thương nặng nề, ảnh hưởng nghiêm trọng đến độ bền vững của cột sống cổ và thường gây ra thương tổn tủy cổ, có thể dẫn tới những chi phí thần kinh nặng nề hoặc gây tử vong cho người bệnh.
Theo BS. Đinh Ngọc Sơn – Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, việc xác định đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán đúng thương tổn, từ đó đề ra biện pháp điều trị đúng có ý nghĩa rất quan trọng, thuận lợi cho sự phục hồi và tái hòa nhập trở lại cộng đồng đối với người bệnh. Chẩn đoán đúng cũng giúp cho tỷ lệ tử vong do chấn thương cột sống cổ giảm từ 33% xuống 9%.
Từ tháng 01/2015 đến tháng 6/2016 tác giả Đinh Ngọc Sơn cùng cộng sự Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh của bệnh nhân chấn thương cột sống cổ thấp có liệt tủy”. Đối tượng tham gia nghiên cứu có 68 bệnh nhân bị chấn thương cột sống cổ thấp từ C3-C7, được phẫu thuật tại Khoa Phẫu thuật cột sống Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức.
Qua phân tích bác sĩ Đinh Ngọc Sơn cho biết độ tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 48,1; tỷ lệ nam giới gấp 6 lần so với nữ giới, nghề nghiệp nông dân chiếm 50%; nguyên nhân chấn thương do tai nạn giao thông là nhiều nhất với 47%. BS. Sơn có nhận định dấu hiệu đau mỏi cổ và đau kiểu rễ là dấu hiệu gợi ý để những người sơ cứu nạn nhân có thể biết để sơ cứu tốt tránh làm tổn thương nặng thêm. Trong nghiên cứu tỷ lệ đau mỏi cổ chiếm 88%, đau kiểu rễ chiếm 72%, còn lại là nạn nhân có triệu chứng cơ năng nuốt đau, đau cứng cổ.
Kết quả đánh giá rối loạn vận động chia 4 mức từ 0 đến 20, mức từ 0-5 chiếm tỷ lệ nhiều nhất với 51,5%. Đối với rối loạn cảm giác gần 90% bệnh nhân có giảm hoặc mất cảm giác. Đánh giá về rối loạn cơ tròn ở 3 mức bình thường, rối loạn và mất phản xạ co thắt, có đến 88% bệnh nhân có biểu hiện rối loạn cơ tròn, có 50% bệnh nhân mất phản xạ cơ thắt.
Theo BS. Sơn, đánh giá các tổn thương thần kinh, nghiên cứu dựa vào thang điểm đánh giá vận động của Hội Chấn thương chỉnh hình Mỹ (1997) và bảng đánh giá các tổn thương thần kinh cột sống AIS. Đối với những bệnh nhân ở trong thang điểm vận động từ 0-5; tương ứng với phân loại AIS A và B, đây là những bệnh nhân có tiên lượng xấu, khả năng hồi phục vận động sau phẫu thuật rất kém. Công tác khám cảm giác trong chẩn đoán chấn thương cột sống cổ có liệt hủy mục đích là xác định mức độ tổn thương và vị trí tổn thương. Trong nghiên cứu có 37 bệnh nhân mất hoàn toàn cảm giác dưới mức tổn thương nằm trong những bệnh nhân được phân loại AIS A và B; 24 bệnh nhân giảm cảm giác dưới mức thương tổn, hầu như chỉ còn những cảm giác nông, nóng, lạnh, sờ. Đối với những bệnh nhân còn cảm giác thuộc phân loại AIS D là những bệnh nhân có tiên lượng tốt và tỷ lệ hồi phục sau mổ cao.
Đối với đánh giá thương tổn thần kinh qua đánh giá rối loạn cơ tròn, bí ỉa, bí tiểu và rối loạn cương, trong rối loạn cơ tròn thường rối loạn chức năng cơ thắt bàng quang là chủ yếu.
BS. Sơn cho biết tất cả bệnh nhân đều chụp X quang cổ thẳng, nghiêng. Kết quả cho thấy tỷ lệ phát hiện các tổn thương trên X quang là 85%, với tổn thương nhiều nhất là gãy lún, hình chêm thân đốt sống (48,5%). Tất cả các bệnh nhân được chụp cắt lớp vi tính gãy lún chêm thân đốt sống chiếm gần 50%; gãy vỡ toàn bộ thân đốt sống chiếm 32%, ngoài ra chụp CT giúp xác định mức độ chèn ép ống sống nhằm xác định được mức độ tổn thương trên lâm sàng.
Đối với chụp cộng hưởng từ, việc đánh giá những thương tổn về phần mềm, đĩa đệm và tổn thương tủy trong phim chụp MRI cột sống cổ hơn hẳn các phương pháp khác. Trong số 50 bệnh nhân chụp MRI cột sống cổ, thấy tổn thương đụng dập tủy, phù tủy và đứt tủy là 36 bệnh nhân (74%); có 33% bệnh nhân có hẹp ống sống cổ đa tầng, 10% bệnh nhân có máu tụ trong, ngoài tủy. Với kết quả X quang, CT, MRI kết hợp với khám lâm sàng tỉ mỉ. Các bác sỹ đã đưa ra được chẩn đoán chính xác và có chỉ định mổ dựa theo thuyết 3 trục của Dennis và bảng phân loại mức độ chấn thương cột sống cổ thấp (SLIC).
Hồng Sơn