Trong mọi xã hội, thái độ và hành vi về vấn đề tình dục và giới có ý nghĩa sâu xa đối với phụ nữ và nam giới và có ảnh hưởng cơ bản đến chất lượng cuộc sống. Hiểu biết về thái độ và hành vi tình dục có tầm quan trọng đối với các nhà nghiên cứu, những người lập chính sách và những người cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra khái niệm sức khỏe tình dục “Là sự hòa hợp của các khía cạnh xã hội, tri thức tinh thần và thể xác của tình dục trong phương cách để làm phong phú và nâng cao nhân cách, quan hệ giao tiếp và tình yêu”. Năm 1994, Liên Hợp Quốc cũng đưa ra khái niệm “Sức khỏe tình dục là sự nâng cao đời sống và các quan hệ cá nhân không chỉ là sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục”.
Ngày nay, vai trò nghiên cứu khoa học về tình dục được nhấn mạnh từ khi sức khỏe sinh sản trở thành ưu tiên hàng đầu và đặc biệt khi có đại dịch HIV/AIDS.
Trong những năm qua, công tác chăm sóc sức khỏe tình dục đang vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn. Hiện tượng quan hệ tình dục (QHTD) trước hôn nhân và sống thử đã trở thành một xu hướng trong sinh viên nhưng nhận thức về sức khỏe tình dục của sinh viên còn nhiều hạn chế, dẫn đến hậu quả mang thai ngoài ý muốn và tình trạng nạo phá thai ở sinh viên ngày càng cao. Vì vậy, việc tuyên truyền giáo dục nhận thức đúng cho sinh viên về sức khỏe tình dục đã trở thành vấn đề cấp thiết của gia đình, nhà trường và toàn xã hội.
Theo số liệu năm 2008, mỗi năm Việt Nam có 1,2 triệu ca nạo phá thai; trong đó có tới 20% trường hợp là học sinh, sinh viên. Nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở vị thành niên và thanh niên cũng đang ở mức báo động. Theo đánh giá kết quả điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam gần đây (SAVY 2) cho thấy kiến thức, thái độ, hành vi của thanh niên và vị thành niên trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục tuy đã có nhiều cải thiện nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, cần tiếp tục đẩy mạnh các chương trình giáo dục và dịch vụ có liên quan đến sức khỏe sinh sản trong những năm đến theo mục tiêu Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đề ra: “Cải thiện sức khỏe sinh sản của người chưa thành niên và thanh niên: Tăng tỷ lệ điểm cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản thân thiện với người chưa thành niên và thanh niên lên 50% tổng số điểm cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản vào năm 2015 và 75% vào năm 2020; Giảm 20% số người chưa thành niên có thai ngoài ý muốn vào năm 2015 và giảm 50% vào năm 2020”.

Từ tháng 3/2017 đến tháng 10/2017, BS.CKII Tôn Thất Toàn cùng cộng sự Trung tâm Truyền thông GDSK Khánh Hòa thực hiện nghiên cứu cắt ngang báo cáo đề tài “Nghiên cứu kiến thức, thái độ và hành vi về sức khỏe tình dục của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa”. Đối tượng nghiên cứu là sinh viên hệ chính quy trường Đại học Khánh Hòa năm học 2016-2017, tự nguyện tham gia nghiên cứu.
Theo BS.CKII Tôn Thất Toàn, có 240 đối tượng nghiên cứu được chọn tham gia nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) đa số là giới tính nữ, chiếm tỷ lệ 81,2%. Tuổi nhỏ nhất là 18, tuổi lớn nhất là 27. ĐTNC đa số là ở tỉnh Khánh Hòa (85,5%). ĐTNC sống ở vùng nông thôn chiếm tỷ lệ 77,5%. Đa số ĐTNC đang học năm thứ 3 chiếm (72,1%), trong thời gian đi học, ĐTNC chủ yếu là ở nội trú hoặc nhà trọ tỷ lệ lần lượt là 42,9%; 38,3%. Đa số ĐTNC có bố mẹ sống cùng nhau (89,2%); phần lớn kinh tế gia đình của ĐTNC ở mức trung bình (81,7%). Bố mẹ của ĐTNC đa số có trình độ học vấn ở mức THCS trở lên ( 85,8% ở bố và 82,9% ở mẹ). Tỷ lệ ĐTNC có bố làm ruộng là 32,9%, buôn bán là 22,9%; ĐTNC có mẹ buôn bán là 37,9%, làm ruộng là 27,1%.
Tác giả nghiên cứu báo cáo, tất cả ĐTNC tham gia nghiên cứu đều đã được nghe nói đến sức khỏe tình dục (SKTD). Nội dung về SKTD mà ĐTNC biết nhiều nhất là phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) chiếm 94,6%; các biện pháp tránh thai (86,7%), SKTD vị thành niên (84,6%); tình dục an toàn và không an toàn (71,7%).
Về hành vi tình dục an toàn, tỷ lệ ĐTNC trả lời đúng hành vi QHTD đường âm đạo có sử dụng BCS chiếm tỷ lệ cao (78,3%); QHTD đường hậu môn có mang BCS chiếm tỷ lệ 17,9%. Vẫn có tỷ lệ khá cao ĐTNC hiểu sai, cho rằng QHTD đường âm đạo nhưng xuất tinh ngoài âm đạo là hành vi tình dục an toàn (28,3%); và 5% cho rằng QHTD đường miệng khi có vết thương rỉ máu.
Đối với hành vi tình dục không an toàn, có 54,6% trả lời đúng là QHTD qua đường hậu môn không dùng BCS; 37,9% cho rằng nuốt tinh dịch khi QHTD. Vẫn có ĐTNC trả lời sai về hành vi tình dục không an toàn, có đến 28,8% trả lời là thủ dâm và vẫn có 2,1% cho rằng vuốt ve, nắm tay. Tuy nhiên, có 19,6% ĐTNC không biết hành vi tình dục an toàn và 29,6% không biết thế nào là hành vi tình dục không an toàn.
Tỷ lệ ĐTNC hiểu về tình dục có trách nhiệm khá cao, đó là sự tôn trọng tình yêu và bảo vệ nhau phòng tránh bệnh LTQĐTD (82,9%); Chịu trách nhiệm trước hậu quả của mình vì tình dục do mình gây ra cho bạn tình (73,8%), tránh có thai ngoài ý muốn (55%).
Hơn 1/2 ĐTNC cho rằng tình dục đồng giới không phải là bệnh (53,3%), có 19,6% ĐTNC cho rằng tình dục đồng giới là bệnh. Có 6,7% ĐTNC không biết thế nào là tình dục có trách nhiệm và 21,2% không biết hành vi bạo lực tình dục.
ĐTNC trả lời đúng các dấu hiệu dậy thì của nam và nữ khá cao, phát triển chiều cao/ cân nặng (92,9%); Bạn gái có kinh nguyệt (87,5%); Bạn trai vỡ giọng, bạn gái có mụn trứng cá (87,5%). Chỉ có 5,8% ĐTNC trả lời đúng thời điểm dễ có thai là 7 ngày giữa hai lần có kinh. Có 87,9% cho rằng có thể mang thai khi hai người khác giới QHTD. Đa số ĐTNC cho rằng nạo phá thai là nguy hiểm (98,9%). Nạo phá thai sẽ gây vô sinh (92,9%); đớn thể xác (76,2%), thủng tử cung (67,1%). Cơ sở y tế chuyên khoa nhà nước là nơi nạo phá thai tốt nhất (90%). Các biện pháp tránh thai mà ĐTNC biết là bao cao su và đặt vòng (93,3%; 80,8%).Vẫn còn 3,8% không biết các biện pháp tránh thai.
Văn Hanh