Theo các chuyên gia tim mạch, ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thường có bệnh tim mạch, khi xảy ra những đợt cấp tiên lượng bệnh cũng xấu hơn, do giảm oxy máu, tăng áp phổi và viêm hệ thống làm ảnh hưởng đến chức năng tim.
Những yếu tố nguy cơ tim mạch và bệnh kèm tim mạch tương quan với tử vong tại bệnh viện bao gồm tuổi, giới nam, bệnh mạch máo não, bệnh tim thiếu máu, rung nhĩ và suy tim sung huyết. Lúc bệnh nhân nhập viện, những đặc điểm tim mạch dự báo trước là hạ huyết áp, nhịp tim nhanh, rối loạn nhịp, đột quỵ, phù phổi, gia tăng áp lực động mạch phổi trung bình trên 18mmHg và phù bàn chân 2 bên.

Theo PGS. Lê Văn Bàng, BNP và NT-pro BNP là những chỉ điểm của rối loạn chức năng thất trái; vì vậy đó những chỉ điểm sinh học cần xác định tìm nguy cơ bệnh nhân tử vong tại bệnh viện. Các bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh lý tim mạch thường khó được chẩn đoán lúc nhập viện vì đó là bệnh ổn định. Có tỷ lệ khoảng 55% bệnh nhân bị đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có rối loạn chức năng thất trái tâm thu hay tâm trương. Các nghiên cứu hồi cứu cũng cho thấy bệnh nhân có sự gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim cấp và có chứng cứ điện tâm đồ bị nhồi máu cơ tim làm bối cảnh lâm sàng phức tạp, khó phân biệt với bệnh tim mạch thường hay gặp ở bệnh nhân.
PGS. Bàng cho biết, bệnh tim mạch đi kèm sự gia tăng của troponin ở thời điểm xuất viện phối hợp một cách độc lập với sự gia tăng nguy cơ tái nhập viện vì đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Thời gian nằm viện đối với đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trung bình khoảng từ 6-9 ngày. Các yếu tố dự đoán làm tăng thời gian nằm viện gồm tuổi từ 65 trở lên, tình trạng hiệu suất kém hay FEV1 % thấp trên phân tích đa biến ở bệnh nhân phổi tắc nghẽn mạn tính. Có những nghiên cứu cho thấy đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là một yếu tố kích hoạt những bệnh tim mạch. Có trường hợp cho thấy sử dụng thường quy corticosteroid uống phối hợp với sự gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim; nhất là khi xảy ra bệnh mạch máu não phối hợp với các nhiễm trùng đường hô hấp. Có nghiên cứu cũng cho thấy những bệnh nhân có tiêm chủng vắc xin phòng ngừa cúm làm giảm được 19% nhập viện vì bệnh tim mạch, giảm được 23% nhập viện vì bệnh mạch máu não; giảm 32% nhập viện vì bệnh viêm phổi hay cảm cúm; giảm 50% tử vong tất cả nguyên nhân ở những bệnh nhân trên 65 tuổi.
Các nghiên cứu cũng chỉ ra ô nhiễm không khí có liên quan đến sự gia tăng ngưng tim. Tiếp xúc khói dày đặc làm gia tăng bệnh mạch vành. Một viêm nhiễm mạn tính, viêm hệ thống làm mảng xơ vữa không ổn định gây nên tình trạng tiền huyết khối.
Theo PGS Bàng, ảnh hưởng tim nặng nhất của bệnh phổi mạn là tải trọng trên thất phải vì có sự tăng áp phổi, sự phát triển của tâm phế mạn, biểu hiện của phì đại hoặc giãn thất phải do suy yếu chức năng phổi. Để chẩn đoán những biến chứng tim ở bệnh nhân bị bệnh phổi có thể sử dụng nồng độ các peptide lợi niệu, kết quả cho thấy nó thường cao ở bệnh nhân bị bệnh tim và phổi hơn là chỉ bị bệnh phổi đơn độc. ANP và BNP được phóng thích trước tiên từ tim nhưng lưu hành như là hormon tác động ở những mô khác nhau của cơ thể. Chúng gây ra giãn mạch, thải natri và lợi tiểu. Nồng độ NT-pro BNP có khuynh hướng cao gấp 10 lần so với BNP.
Kết quả các nghiên cứu khác cũng cho thấy những bệnh nhân bị suy hô hấp tăng khí carbonic mạn tính nồng độ NT-pro BNP gia tăng rõ rệt so với nhóm chứng; sau khi loại trừ những bệnh nhân kèm bệnh tim hay bệnh thận, nồng độ vẫn tăng. Nồng độ BNP cao được giải thích do giảm luồng khí thở ra, tăng căng phồng phổi, có thể làm suy yếu chức năng tim. Những bệnh nhân bị thiếu oxy nặng, nồng độ BNP cũng cao hơn. Thiếu oxy là yếu tố quan trọng làm tăng áp phổi, căng thành thất phải bởi sự kích thích co mạch phổi; thiếu oxy gây phóng thích trực tiếp BNP từ cơ tim. Khi sử dụng biện pháp oxy kéo dài sẽ giúp nồng độ BNP giảm.
PGS. Lê Văn Bàng có kết luận có mối liên quan giữa sự gia tăng nồng độ BNP và NT-pro BNP, gia tăng tử vong tim mạch trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Gia tăng BNP và NT-pro BNP phối hợp với rối loạn chức năng thất trái và nhồi máu cơ tim cấp ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính; cả hai chỉ điểm này phối hợp với nhau có ý nghĩa thống kê trên nghiên cứu lâm sàng. Các nghiên cứu cho thấy BNP và NT-proBNP là hai chỉ điểm hữu ích cho chẩn đoán suy thất trái trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và dự báo tử vong trong 30 ngày và tử vong lâu dài. Có sự phối hợp giữa tần suất nhồi máu cơ tim cấp với sự gia tăng nồng độ troponin và một sự gia tăng tử vong ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Như vậy cả BNP/ NT-proBNP và troponin giúp cung cấp cho bác sĩ những thông tin về giá trị tổ hợp có khả năng chấp nhận được của những chỉ điểm này. Cả hai chỉ điểm gia tăng tỷ lệ tử vong của bệnh nhân cao hơn so với chỉ gia tăng có 1 chỉ điểm. Các chỉ điểm này giúp xác định rối loạn chức năng thất trái và tổn thương cơ tim từ đó có thể có hướng xử trí cải thiện tình trạng và chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
Xét nghiệm BNP, NT-proBNP và các troponin tim hiện nay được sử dụng rộng rãi trên lâm sàng đối với những bệnh nhân có bệnh tim trên đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính; đây là những xét nghiệm đơn giản, dễ thực hiện giúp dự báo tiên lượng, quản lý tốt bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có nguy cơ cao để can thiệp được tốt hơn.
Nghi Anh