Chấn thương cột sống là loại chấn thương thường gặp trong tai nạn lao động, tai nạn giao thông và sinh hoạt. Trong đó chấn thương cột sống đoạn ngực – thắt lưng chiếm tới 70% trường hợp. Hậu quả nặng nề của chấn thương cột sống đoạn ngực – thắt lưng là gây mất vững cột sống, tổn thương thần kinh; tuy không đe dọa tính mạng như chấn thương cột sống cổ nhưng để lại nhiều di chứng nặng nề ảnh hưởng đến khả năng sinh hoạt hàng ngày, làm giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Theo bác sĩ Nguyễn Lê Bảo Tiến, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức, từ năm 1996 đến tháng 9/1997 Bệnh viện ghi nhận có 63 trường hợp chấn thương cột sống, giai đoạn 2002 – 2003 số trường hợp chấn thương cột sống đoạn ngực – thắt lưng là 106 trường hợp. Với sự tiến bộ của chẩn đoán hình ảnh như chụp X-quang quy ước, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ đã giúp cho công tác chẩn đoán chấn thương cột sống có nhiều thuận lợi và chính xác hơn.
Từ tháng 9/2015 đến tháng 5/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Lê Bảo Tiến cùng cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh của bệnh nhân chấn thương cột sống đoạn bản lề Ngực thắt lưng mất vững có tổn thương tủy không hoàn toàn”.
Đối tượng nghiên cứu là 89 bệnh nhân bị chấn thương cột sống đoạn bản lề ngực thắt lưng mất vững có tổn thương tủy không hoàn toàn được điều trị phẫu thuật tại khoa Phẫu thuật Cột sống, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức. Theo phân tích của tác giả nghiên cứu, 89 bệnh nhân được nghiên cứu có tuổi trung bình là 44,2; bệnh nhân tuổi thấp nhất là 13; nhóm 20-60 tuổi chiếm 87,6%; nhóm dưới 20 tuổi là 3,4%; nhóm trên 60 tuổi là 9%. Tỷ lệ nam/nữ là 1,8/1. Nguyên nhân chấn thương do tai nạn lao động 42,7%; tai nạn sinh hoạt 32,6%; tai nạn giao thông 24,7%.
BS Bảo Tiến cho biết, đau vùng lưng là triệu chứng sớm nhất sau chấn thương cột sống. Có 100% đối tượng nghiên cứu vào Viện đều đau vùng lưng sau chấn thương. Trước phẫu thuật có 55/89 đối tượng nghiên cứu (61,8%) có rối loạn cơ tròn; biểu hiện là rối loạn đại tiểu tiện, không có khả năng tự chủ; không có cảm giác muốn đi tiểu phải đặt Sond tiểu.
Tác giả nghiên cứu sử dụng bảng điểm vận động và cảm giác của Hội chấn thương cột sống Mỹ (ASIA – 2006) từ đó phân loại tổn thương thần kinh theo các mức độ khác nhau.
Trong tổng số đối tượng nghiên cứu chấn thương cột sống đoạn bản lề ngực thắt lưng mất vững có liệt tủy không hoàn toàn tỷ lệ AIS-B là 11 trường hợp (12%); AIS-C là 29 trường hợp; cao nhất là AIS-D với 49 trường hợp (55%).

Đặc điểm về chẩn đoán hình ảnh phim X-quang, tất cả đối tượng nghiên cứu được chụp lấy đầy đủ đoạn cột sống tổn thương 2 tư thế thẳng và nghiêng. Quan sát được vị trí tổn thương một đốt gặp nhiều nhất là tại L1 chiếm 48,3%; tại L2 chiếm 19,1%; tại T12 chiếm 15,7%; tại T11 chỉ có 2,2%. Nguyên nhân gặp tỷ lệ tại L1 nhiều nhất, tác giả nghiên cứu cho rằng vì đây là vị trí bản lề, vị trí chịu lực lớn nhất khi bị tác động với cả lực ép từ trên xuống và lực dồn lại từ dưới lên.
BS Bảo Tiến cho biết trên film chụp cắt lớp vi tính, giúp xác định chính xác hơn tổn thương vỡ xương, tình trạng khớp hay mảnh xương di bệnh gây hẹp ống sống. Các tổn thương về xương gồm vỡ thân đốt sống gặp 100%; vỡ cung sau gặp 53,3%; gãy mỏm ngang gặp 47,2%; gãy mỏm gai gặp 25,8%; vỡ cuống sống gặp 18%; đặc biệt tổn thương gây hẹp ống sống do mảnh xương chèn phát hiện ở 80/89 bệnh nhân, chiếm 89,8%.
Tác giả nghiên cứu lưu ý, mức độ hẹp ống sống càng cao thì tỷ lệ tổn thương thần kinh càng nặng. Trong 11 bệnh nhân có AIS-B thì 9 bệnh nhân hẹp ống sống trên 50% chiếm tỷ lệ 81,8%; đối với nhóm AIS-D tỷ lệ này là 26,2%. (p<0,05). Khi ống sống bị hẹp 25% nguy cơ tổn thương thần kinh là 12%; hẹp 50% nguy cơ này tăng lên 41%; hẹp 75% nguy cơ tổn thương thần kinh tăng lên 78%.
Ưu điểm của chụp hưởng từ là phát hiện được những tổn thương không thể đánh giá được trên X-quang quy ước và chụp cắt lớp vi tính. Nhờ chụp cộng hưởng từ phát hiện được trường hợp có tổn thương đụng dập, đứt tủy, 5 trường hợp tụ máu ngoài màng cứng, 11 trường hợp tổn thương phức hợp dây chằng phía sau.
Khi phát hiện đầy đủ thông tin tình trạng thương tổn tủy sống sẽ giúp bác sĩ xác định chính xác hơn thương tổn từ đó đưa ra được phương pháp điều trị phẫu thuật phù hợp đạt kết quả cao nhất.
Tác giả nghiên cứu lưu ý, X-quang giúp đánh giá cột sống tổng thể, chụp cắt lớp vi tính cho thấy chính xác tổn thương các thành phần của cột sống giúp phân loại Denis.
Nghi Anh