[Đăng ngày: 24/08/2017]
Ung thư biểu mô buồng trứng là loại ung thư nguy hiểm, bệnh thường gặp ở phụ nữ trưởng thành. Tại Anh quốc, ung thư biểu mô buồng trứng xếp sau ung thư vú, ung thư cổ tử cung nhưng lại là ung thư có tỷ lệ tử vong hàng đầu. Tại Việt Nam, theo tác giả Nguyễn Bá Đức nghiên cứu cho biết, năm 2000 tỷ lệ ung thư biểu mô buồng trứng xấp xỉ mức 4,4/100.000 phụ nữ.

Ung thư biểu mô buồng trứng phát triển qua 3 giai đoạn gồm giai đoạn sớm, giai đoạn muộn và giai đoạn cuối. Ở giai đoạn sớm, bệnh diễn tiến âm thầm, không có triệu chứng rõ ràng, đôi khi chỉ có cảm giác đau tức nhẹ và kéo dài ở vùng bụng dưới. Vì vậy, khi bệnh phát hiện có thể đã ở giai đoạn muộn, triệu chứng đã điển hình và diễn biến rầm rộ hơn.

Trên lâm sàng, việc bác sĩ xác định đúng các triệu chứng bệnh, dấu hiện cận lâm sàng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc gợi ý và hướng kiểm tra chẩn đoán và xử trí phù hợp. Ngay cả khi ở giai đoạn muộn, nếu phát hiện sớm khi khối u chưa lan tràn, di căn thì khả năng sống sau 5 năm của người bệnh có thể được cải thiện đáng kể.

Từ tháng 1/2010 đến tháng 12/2014, nhóm tác giả nghiên cứu Vũ Văn Du cùng cộng sự Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Đại học Y Hà Nội tiến hành nghiên cứu báo cáo đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ung thư biểu mô buồng trứng giai đoạn muộn”. Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu đối với các bệnh nhân chưa phẫu thuật là trên lâm sàng có u buồng trứng dày, dính; xét nghiệm cận lâm sàng có khối u buống trứng; có thể thâm nhiễm tổ chức xung quanh qua siêu âm, CT Scanner, IMR; xét nghiệm tế bào học có tế bào ung thư; nồng độ CA 125 huyết thanh cao. 

Đối với đối tượng nghiên cứu đã phẫu thuật, tổn thương được mô tả trong biên bản phẫu thuật: có u buồng trứng, có thể thâm nhiễm tổ chức xung quanh; về mô bệnh học buồng trứng, mạc nối lớn, các mảnh sinh thiết phúc mạc có tế bào ung thư biểu mô buồng trứng.

Về chẩn đoán giai đoạn muộn, giai đoạn mô bệnh học II- IV dựa vào tiêu chuẩn của FIGO 2014. Các đối tượng nghiên cứu được điều trị hoá chất trước mổ, số đợt hoá chất điều trị phụ thuộc đáp ứng thuốc từng bệnh nhân; sau mỗi đợt điều trị hoá chất, đối tượng nghiên cứu được khám, đánh giá tình trạng bệnh. tất cả bệnh nhân không bị mắc ung thư khác kèm theo.

Theo báo cáo phân tích của BS. Vũ Văn Du, có 64 bệnh nhân nữ đủ điều kiện tham gia nghiên cứu; tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 51,8; người lớn tuổi nhất là 68 tuổi; có 02 trường hợp bệnh nhân mới 17 và 19 tuổi. Về triệu chứng cơ năng thường gặp, bụng to ra có tỷ lệ 30,4%; đau tức bụng dưới có tỷ lệ 54,3%; sút cân 21,7%; ra máu âm đạo sau mãn kinh 4,3%; rối loạn kinh nguyệt 8,7%; tự sờ thấy u 4,3%; phát hiện ngẫu nhiên khi khám phụ khoa có tỷ lệ 6,5%.

Tác giả nghiên cứu cho biết, các ung thư biểu mô buồng trứng xảy ra ở khoảng trên 40 tuổi vì do quá trình tạo ung thư buồng trứng phải trải qua thời gian khá dài với nhiều biến đổi khác nhau. Khi tuổi càng cao, khả năng đề kháng với các tế bào bất thường càng giảm; những sai lạc về bộ gen càng nhiều thì nguy cơ bị ung thư càng tăng lên. Về triệu chứng bệnh, triệu chứng đầy tức bụng dưới thường gặp, tiếp theo là ra máu âm đạo bất thường, hội chứng dạ dày, triệu chứng về hệ thống tiết niệu. Tác giả nghiên cứu nhấn mạnh, khi phụ nữ có dấu hiệu đầy tức bụng dưới không rõ ràng cần nghĩ đến ung thư buồng trứng, bác sĩ sẽ thăm khám cẩn thận vùng tiểu khung bằng thăm âm đạo và trực tràng; làm siêu âm đầu dò âm đạo, thực hiện các xét nghiệm để có thể phát hiện sớm bệnh. Trong nghiên cứu, tỷ lệ khám thấy khối u vùng bụng dưới chiếm đến 80,4%; điều này cho thấy người bệnh chỉ thường phát hiện ra bệnh khi khối u ở giai đoạn muộn, có kích thước khối u đã tương đối lớn.

Nhiều nghiên cứu trong nước cho kết quả tỷ lệ u có thành phần hỗn hợp (gồm cả thành phần dịch và đặc) và u đặc chiếm đa số các trường hợp khoảng gần 75%; còn lại là u dạng nang chiếm 25%. Kết quả siêu âm đầu dò âm đạo kết hợp với Doppler màu có vai trò quan trọng trong phát hiện và chẩn đoán khối u buồng trứng, đồng thời phương pháp này cũng nhạy hơn các phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác như CT cắt lớp đối với việc đánh giá tính chất lành tính hay ác tính. Các dấu hiệu gợi ý ác tính trên siêu âm gồm: u có thành phần hỗn hợp và đặc; có vách dày trên 3mm và không đều; có nụ sùi trong u, dịch ổ bụng và tăng sinh mạch trên Doppler màu. Khi bệnh nhân có những dấu hiệu gợi ý ác tính, bác sĩ sẽ có chỉ định phẫm thuật thăm dò.

Đối với xét nghiệm mô bệnh học, đây là phương pháp cận lâm sàng có giá trị cao để xác định tính chất khối u. Theo BS.Vũ Văn Du, kết quả nghiên cứu cho thấy phát hiện ung thư biểu mô buồng trứng thể thanh dịch là thường gặp và có tỷ lệ 54,1%.

Về phòng ngừa ung thư biểu mô buồng trứng, hiện nay chưa có phương pháp phòng ngừa hữu hiệu. Phụ nữ nào có nguy cơ cao nên cảnh giác, mọi phụ nữ cần cảnh giác về bệnh ung thư biểu mô buồng trứng. Để phát hiện sớm cần khám phụ khoa thường kỳ, bác sĩ siêu âm vùng bụng chậu, nếu bệnh được chẩn đoán sớm trước khi ung thư lan ra khỏi buồng trứng, tỷ lệ sống còn 5 năm là 92%; khi đã lan ra cơ quan lân cận, tỷ lệ sống còn là 72%; di căn xa tỷ lệ sống còn 5 năm giảm còn 27%.

Văn Hanh
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 525

Số lượt truy cập: 9358040

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang