Sau phẫu thuật, đau là triệu chứng bệnh nhân khó chịu nhất. Đau gây ra nhiều ảnh hưởng cho hô hấp, tuần hoàn, nội tiết, ức chế miễn dịch, làm tăng quá trình viêm, kéo dài thời gian nằm viện của bệnh nhân.

Hậu quả của đau sau mổ ảnh hưởng đến kết quả hồi phục về sức khỏe và tâm lý của bệnh nhân. Giảm đau sau phẫu thuật giúp xoa dịu về thể xác, nâng đỡ về tinh thần giúp bệnh nhân lấy lại cân bằng tâm-sinh lý, vận động sớm, giảm nguy cơ tắc mạch, giảm thời gian nằm viện. Đau cấp nếu được điều trị tốt sẽ giảm nguy cơ trở thành đau mạn tính. Đối với phụ nữ sau mổ lấy thai, giảm đau tốt ngoài những lợi ích đã nêu còn giúp người mẹ cho trẻ bú sớm và chăm sóc trẻ tốt hơn.
Theo các chuyên gia gây mê hồi sức, cơ chế gây đau đã được nghiên cứu rõ đến cấp độ phân tử. Sự ra đời hàng loạt thuốc giảm đau, các phương pháp giảm đau sau mổ từ đơn giản đến phức tạp đã đáp ứng tốt yêu cầu điều trị bệnh nhân. Mỗi loại thuốc, mỗi phương pháp giảm đau có những ưu, nhược điểm khác nhau. Việc lựa chọn phương pháp nào phụ thuộc vào tính chất cuộc mổ, yếu tố bệnh nhân, bệnh lý đi kèm, điều kiện nhân lực, trang thiết bị của mỗi cơ sở y tế.
Trong phẫu thuật lấy thai, đau sau mổ có thể từ mức trung bình đến nặng Paracetamol là thuốc được dùng để giảm đau, nhưng tỷ lệ đau còn cao. Vừa qua, tác giả Nguyễn Văn Minh cùng cộng sự Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế tiến hành nghiên cứu “Hiệu quả giảm đau của Nefopam kết hợp paracetamol sau phẫu thuật lấy thai”.
Đối tượng nghiên cứu là sản phụ có quá trình mang thai bất thường, thai nhi đủ tháng, có chỉ định gây tê tủy sống, thể trạng tốt, đồng ý tham gia nghiên cứu, không có chống chỉ định sử dụng nefopam. Các bệnh nhân có tiền sử hoặc hiện tại mắc bệnh thần kinh, tâm thần, khó khăn trong giao tiếp, có bệnh viêm phổi cấp và mạn, bệnh suy gan, suy thận, có tai biến biến chứng về phẫu thuật và gây mê, đau mạn tính thường xuyên phải dùng thuốc giảm đau đều không được chọn vào tham gia nghiên cứu. Nghiên cứu được tiến hành tại Khoa Gây mê hồi sức Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế.
Theo BS Minh, nghiên cứu được tiến hành trên 80 đối tượng nghiên cứu, chia ngẫu nhiên 2 nhóm. Nhóm dùng nefopam 20mg truyền tĩnh mạch mỗi 8 giờ sau phẫu thuật, trong 24 giờ đầu, kết hợp paracetamol 1 gam tĩnh mạch mỗi 8 giờ sau phẫu thuật như thường quy, liều đầu tiêm trong vòng 1 giờ sau khi vào phòng hồi tỉnh. Nhóm chứng dùng paracetamol 1 gam tĩnh mạch sau mỗi 8 giờ sau phẫu thuật; liều đầu tiên trong vòng 1 giờ sau khi vào phòng hồi tỉnh.
Hướng dẫn đối tượng nghiên cứu cách sử dụng thước để đánh giá điểm đau hình đồng dạng VAS (Visual Analog Scale). Đánh giá điểm đau lúc nghỉ, lúc vận động bằng thước VAS, tỷ lệ bệnh nhân yêu cầu giảm đau morphin, tác dụng không mong muốn và mức độ hài lòng của bệnh nhân về phương pháp giảm đau sau phẫu thuật 3 mức tốt, trung bình và kém.
Theo báo cáo của BS Minh, tuổi, cân nặng, chiều cao trung bình của 2 nhóm đối tượng nghiên cứu tương đươngnhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy nefopam kết hợp với Paracetamol làm giảm điểm đau lúc nghỉ và lúc vận động, VAS lúc nghỉ dưới 4, lúc vận động dưới 5. Nhóm được sử dụng nefopam tỷ lệ cần sử dụng morphin là 7,5% thấp hơn so với nhóm chứng tỷ lệ này là 30%. BS Minh cho rằng, sử dụng kết hợp thuốc trong nghiên cứu nefopam và paracetamol có thể thay thế việc sử dụng morphin đối với bệnh nhân phẫu thuật lấy thai ở mức đau trung bình đến nặng khi đã dùng paracetamol.
Đau sau phẫu thuật lấy thai từ mức độ trung bình đến nặng giảm dần sau ngày thứ nhất trở đi. BS Minh phân tích, nefopam là thuốc giảm đau trung ương thuộc nhóm benzoxazocin, thuốc không ức chế hô hấp, liều 20mg nefopam có tác dụng giảm đau tương đương 6-12mg morphin. Đối với phẫu thuật bụng sử dụng liều 20mg nefopam trong mỗi 6 giờ có nghiên cứu cho thấy giảm được lượng morphin sử dụng được 30%. Việc giảm sử dụng liều morphin sau phẫu thuật có ý nghĩa lớn trên lâm sàng. Nefopam có tác dụng chống tăng cảm giác đau, giảm hiện tượng nhạy cảm của trung ương do đó có thể hạn chế được chuyển từ đau cấp tính sang đau mạn tính.
Đối với tác dụng không mong muốn của nefopam như buồn nôn, nôn sau phẫu thuật ở 2 nhóm không có sự khác biệt (17,5% so 15%); đây là tỷ lệ thấp. Đối với hiện tượng flush gồm tăng tần số tim, chóng mặt, đỏ da, vã mồ hôi, BS Minh cho biết để hạn chế những vấn đề đó, tiêm tĩnh mạch chậm trong 15 phút, kết quả chỉ có 7,5% đối tượng nghiên cứu có vã mồ hôi. BS Minh cũng lưu ý một ưu điểm sử dụng nefopam là thuốc không gây ức chế hô hấp, không ảnh hưởng đến quá trình đông máu, không gây lệ thuốc thuốc, không xuất hiện hội chứng cai khi dừng sử dụng, sử dụng kéo dài không làm giảm tác dụng. Về mức độ hài lòng của đối tượng nghiên cứu, không có bệnh nhân nào phàn nàn, đối với nhóm chứng tỷ lệ bệnh nhân yêu cầu giảm đau còn cao do điểm đau sau mổ cao. Tác giả nghiên cứu có kết luận nefopam liều 20mg truyền tĩnh mạch mỗi 8 giờ kết hợp paracetamol truyền tĩnh mạch làm giảm đau lúc nghỉ và lúc vận động giảm tỷ lệ yêu cầu morphin giải cứu và không làm tăng tác dụng không mong muốn.
Nguyên Khải