[Đăng ngày: 28/08/2017]
Trong phẫu thuật, nhiễm khuẩn vết mổ là nguyên nhân kéo dài thời gian nằm viện cho người bệnh, tăng chi phí, thậm chí tử vong.

Tùy điều kiện khác nhau, tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ từ 2 đến 15%. Ngày nay, cùng với kiểm soát nhiễm khuẩn, kỹ thuật mổ sử dụng ký sinh dự phòng trong phẫu thuật được xem là một biện pháp hữu hiệu hạn chế tình trạng nhiễm khuẩn vết mổ. Từ tháng 6/2016 nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Thị Ngọc Thảo cùng các cộng sự Bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh tiến hành nghiên cứu và báo cáo đề tài “Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ ở phẫu thuật sạch, sạch nhiễm khuẩn tuân thủ sử dụng kháng sinh dự phòng” Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân được phân loại phẫu thuật sạch, sạch nhiễm khuẩn tại 6 khoa gồm Ngoại thần kinh nam, Ngoại thần kinh nữ, ngoại tiêu hóa, ngoại gan mật tụy, ngoại chỉnh hình và ngoại tiết niệu Bệnh viện Chợ Rẫy.

Tác giả nghiên cứu báo cáo, có 311 bệnh nhân được mời tham gia nghiên cứu. Tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 50,1, tỷ lệ nam/nữ là 1,24/1. Đa số đối tượng nghiên cứu ở độ tuổi từ 16-60, chiếm 64,3%. Số phẫu thuật sạch là 210 chiếm tỷ lệ 67,5%; phẫu thuật nhiễm 91 trường hợp, chiếm tỷ lệ 32,5%.

Đánh giá liều kháng sinh dự phòng, có 25,4% trường hợp sử dụng kháng sinh dự phòng thiếu liều, thường là Cefazolin hoặc Cefatazidim. Có 18 trường hợp không sử dụng kháng sinh dự phòng ở các trường hợp phẫu thuật sạch. Trong nghiên cứu, kết quả có 203 trường hợp sử dụng kháng sinh sau phẫu thuật (65%). Trong đó, có 128 trường hợp sử dụng theo hướng dẫn kháng sinh dự phòng hoặc có bằng chứng nhiễm khuẩn cần sử dụng kháng sinh. Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ chiếm 4,2% (13 trường hợp); 96% không có tình trạng nhiễm khuẩn vết mổ trong bệnh viện.

Tác giả Phạm Thị Ngọc Thảo phân tích, kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật được dùng với mục đích đạt được nồng độ tối đa trong huyết thanh và trong mô vào thời điểm rạch da và được duy trì trong suốt thời gian nguy hiểm (ví dụ giữa lúc rạch da và đóng ổ bụng) để ngăn ngừa những đợt nhiễm khuẩn có thể xảy ra trong thời gian đó. Kháng sinh dự phòng qua nhiều nghiên cứu, cho thấy có khả năng làm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ trong các thử nghiệm lâm sàng, qua đó sẽ giúp giảm được số ngày nằm viện và triệu chứng điều trị cho người bệnh.

Thực tế tại Việt Nam, việc sử dụng kháng sinh dài ngày sau phẫu thuật trở thành một thói quen của các phẫu thuật viên trong nhiều năm qua. Cùng với đó, điều kiện môi trường bệnh viện, kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện được thực hiện nhưng chưa tạo ra được tâm lý yên tâm cho các phẫu thuật viên khi tuân thủ sử dụng kháng sinh dự phòng. Trong nghiên cứu, tác giả báo cáo tỷ lệ tuân thủ kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật là 62,4%. Theo tác giả nghiên cứu chia sẻ, trước năm 2016, phần lớn các trường hợp phẫu thuật đều sử dụng kháng sinh sau phẫu thuật. Thống kê của Bệnh viện Chợ rẫy năm 2016, có hơn 42.000 trường hợp được phẫu thuật, trong đó có khoảng 50% là phẫu thuật sạch, sạch nhiễm, Vì vậy đã hạn chế sử dụng kháng sinh không cần thiết sau phẫu thuật, tiết kiệm được chi phí cho người bệnh.

Tác giả nghiên cứu cho biết, nhiều phân tích gộp các nghiên cứu trên thế giới (2013) cho thấy tỷ lệ nhiểm khuẩn vết mổ chiếm từ 1,3% -2,9%, phẫu thuật sạch nhiễm có tỷ lệ 2,4%-7,7%; phẫu thuật nhiễm tỷ lệ nhiểm khuẩn vết mổ từ 6,4%-15,2%; còn phẫu thuật bẩn tỷ lệ này là 7,1% đến 40%. Báo cáo của trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh của Mỹ (CDC) phẫu thuật sạch có nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ từ 1-5%; phẫu thuật sạch có nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ từ 5-10%. Từ đó, tác giả nghiên cứu cho rằng cần có phân loại phẫu thuật cho tất cả các trường hợp phẫu thuật, đánh giá nguy cơ nhiễm khuẩn để có biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn một cách hiệu quả. Đối với Bệnh viện Chợ Rẫy là Bệnh viện phục vụ người dân của 23 tỉnh phía Nam, là nơi giảng dạy thực hành và nhiều sinh viên, số giường bệnh thực tế trên 2.700 người, do vậy tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ khi sử dụng kháng sinh dự phòng theo hướng dẫn đạt 4,2% là một kết quả đáng khích lệ.

Tác giả nghiên cứu cũng cho biết nhiễm khuẩn vết mổ còn phụ thuộc nhiều yếu tố như tình trạng miễn dịch của bệnh nhân, chế độ dinh dưỡng, bệnh lý kèm theo, liên quan đến loại phẫu thuật; vi khuẩn, loại kháng sinh. Khi sử dụng kháng sinh dự phòng phải cho với liều có thể cho một nồng độ trong mô có hiệu quả trước khi vết mổ có thể bị lây nhiễm. Liều kháng sinh hiệu quả được tính theo cân nặng của người bệnh.

Có nhiều nghiên cứu cho kết quả việc sử dụng kháng sinh dự phòng đúng liều giúp hạ thấp tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ rõ rệt, vấn đề lưu ý là phải dùng kháng sinh dự phòng đúng liều, còn nếu phẫu thuật không dùng kháng sinh đúng là không an toàn. Sử dụng kháng sinh dự phòng đúng bao gồm đúng thuốc, đúng liều, đúng đường và đúng thời điểm. Sử dụng đúng kháng sinh sẽ giúp cho nồng độ kháng sinh đạt được tối đa tại vị trí vết mổ ở thời điểm rạch da qua đó giúp hạn chế nhiễm khuẩn vết mổ trong thời gian hậu phẫu.

Rõ ràng, nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ cao đối với những bệnh nhân phẫu thuật sạch nhiễm và bệnh nhân được sử dụng kháng sinh nhưng không đúng liều, do vậy cần giám sát chặt chẽ sử dụng kháng sinh suốt quá trình điều trị qua đó góp phần giảm tình trạng đề kháng kháng sinh và chi phí hiệu quả trong điều trị cho người bệnh.  

Trần Mai
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 417

Số lượt truy cập: 9357848

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang