[Đăng ngày: 17/08/2017]
Theo GS Nguyễn Chấn Hùng – Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, ngày nay điều trị bệnh ung thư có một kho vũ khí điều trị, sử dụng khi bác sĩ xác định rõ bệnh, đúng giai đoạn thông qua hội chẩn. Mỗi bệnh nhân sẽ có một kế hoạch điều trị hợp lý, mạnh nhất với căn bệnh, vừa sức chịu đựng của bệnh nhân.

Các phương pháp chuẩn hiện nay là phẫu trị, hóa trị và xạ trị. Hóa trị chống ung thư là dùng các loại thuốc để giết các tế bào ung thư. Hiện nay có hàng trăm loại và nhiều loại sẽ được đưa vào sử dụng trong tương lai gần. Các thuốc hóa trị khác nhau về cấu trúc hóa học, khác nhau về cách dùng để điều trị các dạng ung thư  đặc hiệu và khác nhau về các tác dụng không mong muốn. Thuốc hóa trị có mục tiêu là điều trị khỏi bệnh, để diệt tận gốc ung thư và để ung thư không tái phát. Nếu không đạt mục tiêu đó thì cố gắng kiểm soát căn bệnh làm ung thư ngừng phát triển và lan tràn. Hóa trị cũng được sử dụng để giảm bớt các triệu chứng hành hạ người bệnh, giúp người bệnh sống tương đối thoải mái ngay cả khi không thể kéo dài đời sống của họ.

Tại hội nghị khoa học tim mạch can thiệp thường niên 2017 được tổ chức tại thành phố Nha Trang tháng 6/2017, Nhóm tác giả BS Trương Lệ Quyên và BS Nguyễn Thanh Hiền trình bày báo cáo “Đánh giá tim mạch ở bệnh nhân ung thư trước, trong và sau hóa trị”.

Theo tác giả nghiên cứu, bên cạnh sự phát triển của hóa trị liệu thì sự xuất hiện các biến chứng do nhiễm độc tim do thuốc lại làm tăng tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân ung thư. Ảnh hưởng của thuốc hóa trị lên tim mạch đôi khi rất nặng, để lại di chứng nặng nề mặc dù bệnh lý ung thư đã được kiểm soát. Vì vậy cần đánh giá tim mạch cho bệnh nhân ung thư trước, trong và sau hóa trị, xử lý kịp thời các biến chứng trong quá trình điều trị là một trong những bước quan trọng mang lại sự thành công cho hóa trị liệu, góp phần tăng tỷ lệ sống sót cho bệnh nhân ung thư.

BS Trương Lệ Quyên chia sẻ, đánh giá bệnh nhân cần được thực hiện từng bước theo bộ câu hỏi: (1) tình trạng bệnh nhân có thích hợp với hóa trị liệu (2) cần phải làm gì trước khi bắt đầu hóa trị cho bệnh nhân (3) cần phải làm gì khi bệnh nhân có triệu chứng; vai trò của cận lâm sàng, khả năng nhiễm độc tim.

Đối với bước đánh giá tình trạng bệnh nhân có thích hợp với hóa trị liệu cần trả lời các câu hỏi như thuốc hóa trị có gây nhiễm độc tim không, tần suất xảy ra biến chứng liên quan đến thuốc hóa trị; bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cho nhiễm độc tim và ảnh hưởng đến thuốc hóa trị không, cần tìm thêm những thông tin khác liên quan đến nguy cơ tim mạch, từ đó, bác sĩ sẽ phân tầng nguy cơ cho bệnh nhân trước khi hóa trị để có kế hoạch chuẩn bị lâu dài.

Đối với bước trước khi bắt đầu hóa trị cho bệnh nhân, bác sĩ đánh giá bệnh nhân có rối loạn chức năng thất trái và suy tim, thiếu máu cục bộ cơ tim, tăng huyết áp, yếu tố nguy cơ gây QT dài, yếu tố nguy cơ thuyên tắc mạch.

Bác sĩ điều trị sẽ dựa vào phân tầng nguy cơ phân tích để có kế hoạch theo dõi và dự phòng nguy cơ nhiễm độc tim, có chương trình theo dõi và xử trí đối với từng loại nhiễm độc tim.

Theo bác sĩ Trương Lệ Quyên, đánh giá nguy cơ liên quan đến thuốc gồm siêu âm tim với strain, điện tim, Troponin I, Yếu tố nguy cơ gồm bệnh cơ tim, suy tim, bệnh mạch vành hay bệnh mạch máu ngoại biên, tăng huyết áp, đái tháo đường. Tiền căn hay đang đồng thời dùng anthracycline; Tiền căn hay đang đồng thời xạ trị, tuổi dưới 15 hay trên 65 tuổi, giới tính nữ. Về nguy cơ liên quan đến thuốc, nguy cơ cao (điểm 4) đối với thuốc anthracycline; cyclophosphophamide; Ifosfamide; Clofarabine; Herceptin; Nguy cơ trung bình (điểm 2) đối với Docetaxel, Pertuzumab, Sunitinib, Soratinib.

Nguy cơ toàn bộ được tính bằng thang điểm nguy cơ nhiễm độc tim (CRS); nếu CRS>6 nguy cơ rất cao; CRS: 5-6 nguy cơ cao; CRS: 3-4 nguy cơ trung bình; CRS: 1-2; nguy cơ thấp và CRS =0 nguy cơ rất thấp.
Bs Trương Lệ Quyên cho biết chế độ theo dõi đối với nguy cơ nhiễm độc tim rất cao gồm siêu âm tim với strain trước mỗi đợt hóa trị; Khi kết thúc, tiếp tục theo dõi mỗi 3-6 tháng và 1 năm sau đó; tùy chọn xét nghiệm điện tim, Troponin kết hợp với siêu âm tim trong quá trình hóa trị. Trường hợp nguy cơ nhiễm độc tim cao cần siêu âm tim với strain trước mỗi 3 đợt hóa trị, khi kết thúc tiếp tục theo dõi mỗi 3-6 tháng và một năm sau đó, tùy chọn xét nghiệm điện tim, troponin I kết hợp với siêu âm tim trong quá trình điều trị. Đối với nguy cơ nhiễm độc tim rất thấp không cần xét nghiệm, chỉ theo dõi.

BS Quyên cho biết đối với trường hợp nguy cơ nhiễm độc tim rất cao, khởi đầu điều trị UCMC/UCTT, carvedilol và statin. Liều khởi đầu thấp nhất và bắt đầu sau khi hóa trị 1 tuần, khi tình trạng bệnh nhân ổn định, tăng liều dần nếu bệnh nhân dung nạp thuốc. Trường hợp nguy cơ nhiễm độc tim cao, khởi đầu điều trị UCMC/UCTT, carvedilol và/hoặc statin. Đối với  nguy cơ nhiễm độc tim trung bình, cân nhắc giữa nguy cơ và lợi ích của thuốc. Đối với nguy cơ nhiễm độc tim thấp không cần dùng thuốc chỉ được theo dõi.  

Tường Huân
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 524

Số lượt truy cập: 9358039

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang