[Đăng ngày: 12/02/2019]
Có 14,1 triệu người mới mắc ung thư thì đến 1,8 triệu người bị ung thư phổi. Đối với ung thư phổi không phải tế bào nhỏ ở giai đoạn sớm có thể phẫu thuật. Song do có độ ác tính cao, tiến triển nhanh và triệu chứng lâm sàng nghèo nàn nên đa số bị phát hiện ở giai đoạn muộn, hoặc đã có di căn hạch. Điều trị vì vậy gặp rất nhiều khó khăn.

Các phương tiện chẩn đoán hình ảnh nhằm đánh giá các giai đoạn và bản chất của loại ung thư trước khi phẫu thuật như: CT scan, PET, sinh thiết u dưới hướng dẫn của CT hoặc nội soi phế quản dẫn đường là những thành công lớn của y học hiện đại. Hạch N2 dự báo mức độ di căn theo đường bạch huyết đến vùng trung thất cùng bên và hoặc ngay gần carina. Đánh giá bệnh nhân ung thư phổi  có hạch N2 có chỉ định phẫu thuật giúp tiên lượng kết quả điều trị cũng như giúp phẫu thuật viên vét hạch ngăn ngừa di căn và giảm tử vong cho bệnh nhân.

Từ tháng 3/2013 đến tháng 3/2014, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Văn Khôi cùng cộng sự bệnh viện Chợ Rẫy thực hiện nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu, báo cáo đề tài “Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật ung thư phổi không tế bào nhỏ có hạch N2”.

Có 82 bệnh nhân tham gia, 50 bệnh nhân nam, 32 bệnh nhân nữ; tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 60; nhỏ nhất 49 và lớn nhất 68 tuổi.

Khả năng phẫu thuật – Nạo nhóm hạch N2 và bàn luận kết quả sau mổ: Cắt thùy phổi kinh điển được nhiều tác giả cổ vũ trong điều trị ung thư phổi đến tận nay. Vai trò hạch N1, N2 đề cập nhiều trong những năm gần đây trong xác định giai đoạn ung thư phổi. Xác định T (tumor: khối u), M (metatase: di căn) và N (nodule: nốt di căn), xét khả năng phẫu thuật. Xếp giai đoạn trên bệnh nhân bị ung thư phổi còn ảnh hưởng đến phác đồ điều trị. Phẫu thuật cắt phổi gồm cắt 1 thùy, 2 thùy hoặc toàn bộ phổi kèm nạo vét hạch  được xem là phẫu trị theo quy cách. Cắt 2 thùy phổi hay trên 2 thùy là một chỉ định cơ bản khi u đã xâm lấn vào thùy kế cận, hạch di căn vào cuống phổi hoặc động mạch phổi. Woodard GA ghi nhận tử vong sau 5 năm của ung thư phổi giai đoạn III có u xâm lấn rãnh liên thùy 27%. Khi di căn hạch N2-trung thất trên hoặc trung thất dưới 32% và nếu xâm lấn trực tiếp rốn phổi ngay chỗ chia của thân chung động mạch, tĩnh mạch và phế quản gốc phổi 58%. Sartypy, trong 137 bệnh nhân hồi cứu được phân nhóm ngẫu nhiên cắt thùy và cắt 1 phổi có vét hạch N2: không có sự khác biệt về cả tỷ lệ tử vong sau phẫu thuật cũng như chất lượng cuộc sống trong 6 tuần đầu tiên sau mổ (17% và 32%, p = 0,72). Tuy nhiên tác giả nêu sự khác biệt lớn về thời gian mổ rút ngắn đối với phẫu thuật viên có kinh nghiệm (HR (95%CI) 1,63 (0,92;2,9) và 4,14 (1,92; 9,05) trong nạo hạch nhóm N2 ở bệnh nhân giai đoạn IIIA với thời gian mổ rút ngăn > 45 phút. Các nghiên cứu gần đây ghi nhận về tỷ lệ cắt 1 hay 2 thùy hoặc cắt một phổi có chức năng hô hấp kém FEV1 < 40% có tỷ lệ tử vong như nhau. Adam Lackey, tỷ nằm lưu hồi sức sau mổ hoặc thở máy sau hậu phẫu > 3 ngày từ 6-8% nguyên nhân thường do chảy máu nhóm cắt phế quản, từ các nhánh máu nuôi hạch. Nhiễm trùng hoặc viêm phổi sau mổ, tình trạng kém đáp ứng với các thuốc dãn phế quản hoặc bệnh phổi có sẵn làm cho bệnh nhân phải lưu và theo dõi một thời gian tại phòng hồi sức. Trong nghiên cứu của mình Adam Lackey cũng nêu vai trò của bệnh nền như nhồi máu cơ tim cũ hoặc bệnh phổi tắc nghẽn nặng chẳng hạn, làm tăng thời gian lưu hồi sức gấp 3 lần so với nhóm không có bệnh nền. Park BJ theo dõi 325 ca cắt phổi dưới hỗ trợ rô bốt có 12 trường hợp chảy máu hoặc nhiễm trùng sau mổ (3,7%), 5 tử vong liên quan đến chảy máu và viêm phổi hậu phẫu, 43% ca thuộc giai đoạn III (CI=16-69) được nạo hạch triệt để. Theo tác giả, tỷ lệ tử vong có lẻ như thấp hơn so với phẫu thuật cắt thùy phổi hay cắt toàn bộ phổi bởi phương pháp thông thường mổ hở hoặc nội soi.

BS Khôi nhận xét, có 9 ca cắt 2 thùy (thùy trên và giữa phổi phải hoặc giữa và dưới phổi phải), và 2 ca cắt 1 phổi trái vì u xâm lấn rãnh liên thùy và vào rốn phổi, mặc dù kích thước của u: 4,2-5,3cm. Giải phẫu bệnh sau mổ cắt một phổi trái là ung thư tế bào gai, phù hợp với Nikolaos Baltayannis về xuất độ mô học và phương pháp mổ: biểu mô tuyến chiếm đa số thường nằm ngoại vi phổi có thể cắt thùy, ung thư loại gai thường nằm trung tâm đôi khi phải cắt 1 bên phổi. Khi so sánh với Park, tỷ lệ biến chứng và tử vong cao hơn có lẽ do bệnh nghiên cứu cao tuổi có bệnh lý nội khoa.

Điểm hạn chế của Park và nghiên cứu, BS Khôi cho là tìm nạo vét hạch N2, đặc biệt nhóm hạch 5 (cửa sổ phế chủ). Thông thường các tác giả cũng thừa nhận khả năng phẫu thuật nội soi lấy nhóm hạch 5 rất khó khăn vì chảy máu. Có 14 trường hợp không lấy được hoàn toàn nhóm hạch 5 (nằm trong nhóm 17 trường hợp mổ nội soi). So với Park 31%, và các tác giả, có lẽ do những bệnh nhân tham gia nghiên cứu có tỷ lệ mổ mở nhiều (79%) so với mổ nội soi – do chưa có nhiều kinh nghiệm vì thủ thuật rất khó khăn. Ngược lại, ghi nhận tỷ lệ vét nhóm hạch 7 gần như tương đương (76% và 78%). Về tỷ lệ an toàn sau mổ, có 69 trường hợp phẫu thuật không biến chứng sau mổ, 16% bị biến chứng trong đó có 2/82 trường hợp phải mổ lại do chảy máu vết mổ và 4/82 trường hợp nhồi máu cơ tim tử vong sau hậu phẫu trong tổng số 84 bệnh nhân, các trường hợp nhiễm trùng vết mổ sau khi điều trị nội khoa dần ổn định.

Bác sĩ Khôi có kết luận, qua nghiên cứu, nếu ung thư phổi không tế bào nhỏ được phát hiện và chẩn đoán, nếu còn chỉ định, phẫu thuật cắt thùy phổi là phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả nay cả khi phát hiện được hạch N2.

Phẫu thuật cắt 1 thùy hay hơn 1 thùy không ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong sau mổ, phẫu thuật mỏ ưu thế nạo vét hạch triệt để hơn so với nội soi khi nạo vét các nhóm hạch N2, đặc biệt nhóm hạch của sổ phế chủ.
Đánh giá lại nhóm hạch N2 sau khi phẫu thuật cho phép hạ bậc giai đoạn, giúp tiện liệu thời gian sống còn cũng như chiến lược điều trị bệnh nhân hiệu quả. Thời gian sống thêm sau 2 năm là 14,3 tuần + 6,5 tuần, gần tương tự như các tác giả nước ngoài.
Đức Bảo
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 95

Số lượt truy cập: 9349051

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang