Tắc tá tràng bẩm sinh là sự bít tắc hoàn toàn hay không hoàn toàn tá tràng do các nguyên nhân bẩm sinh.
Tắc tá tràng bẩm sinh là hệ quả của một vài khuyết tật phôi học trong sự phát triển tiền tràng như sự hình thành ống hay sự quay bất thường. Các bất thường về phôi học của các cơ quan lân cận như tụy, tĩnh mạch cửa, động mạch mạc treo tràng trên… cũng có thể dẫn tới tắc tá tràng là một cấp cứu ngoại khoa cần được chẩn đoán và xử trí kịp thời.

Tắc tá tràng bẩm sinh cần được chẩn đoán và điều trị sớm tránh cho trẻ bị rối loạn nước và điện giải, thăng bằng kiềm toan, viêm phổi, hậu quả có thể dẫn tới tử vong. Biểu hiện lâm sàng sớm của tắc tá tràng bẩm sinh là trẻ nôn trong vòng 24 giờ đến 48 giờ đầu sau sinh, chất nôn là sữa lẫn dịch mật (80% là tắc dưới nhú tá tràng). Hình ảnh đặc trưng của tắc tá tràng bẩm sinh trên phim X quang bụng không chuẩn bị là hình hai mức nước hơi biểu hiện của sự giãn của dạ dày và tá tràng trên chỗ tắc. Tuy việc chẩn đoán sớm tắc tá tràng bẩm sinh là đơn giản nhưng cũng đã có một số trường hợp trẻ đến cơ sở y tế muộn, biểu hiện mất nước nặng. Cùng với sự tiến bộ của gây mê hồi sức khoa nhi, tiến bộ của các phương pháp phẫu thuật, chăm sóc nuôi dưỡng thì tỷ lệ tử vong của tắc tá tràng bẩm sinh ngày càng giảm 45% (1977), 7% (1993), 4% (1998).
Ở Việt Nam, với sự phát triển của siêu âm trước sinh và hình thành các trung tâm, chẩn đoán trước sinh trên cả nước nên việc chẩn đoán tắc ruột sơ sinh ngày càng sớm nên các bệnh nhân tắc tá tràng bẩm sinh ngày càng được quản lý sớm.
Nhóm nghiên cứu gồm tác giả Vũ Hồng Tuân cùng cộng sự Bệnh viện Việt Đức, trường Đại học Y Hà Nội thực hiện báo cáo nghiên cứu “Đánh giá kết quả điều trị bệnh tắc tá tràng bẩm sinh tại Bệnh viện Việt Đức giai đoạn 2010-2015”.
Đối tượng nghiên cứu là tất cả các bệnh nhi chẩn đoán trong mổ là tắc tá tràng. Tiêu chuẩn loại trừ: Các bệnh nhi chẩn đoán tắc ruột sơ sinh khi mổ ra nguyên nhân là các thương tổn khác như: teo ruột, tắc ruột phân xu, giãn đại tràng bẩm sinh, xoắn ruột, dị tật hậu môn trực tràng… Trong giai đoạn nghiên cứu có 45 trường hợp bệnh nhi tắc tá tràng được mổ tại khoa.
Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả hồi cứu. Cách thức thu thập bệnh án nghiên cứu đối với các bệnh nhân hồi cứu:
- Tra cứu sổ ra vào viện của khoa phẫu thuật nhi Bệnh viện Việt Đức từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 1 năm 2015. Từ đó lập danh sách bệnh nhân gồm tên, tuổi, chẩn đoán lâm sàng, ngày ra vào viện.
- Tra mã bệnh án của từng bệnh nhân tại phòng hồ sơ lưu trữ bệnh viện Việt Đức theo phân loại bệnh quốc tế ICD 10.
- Kiểm tra hồ sơ, đối chiếu phù hợp với chỉ tiêu, mới lấy vào nghiên cứu.
- Vào theo bệnh án mẫu đã thiết kế trước.

Các chỉ tiêu nghiên cứu: chẩn đoán trước mổ, các thương tổn trong mổ. Thời gian nằm viện. Kết quả điều trị phân theo 3 mức: tốt: bệnh nhân sau mổ không có biến chứng, ra viện; Trung bình: Bệnh nhân sau mổ có biến chứng nhưng điều trị khỏi, ra viện; Xấu: Bệnh nhân tử vong.
Bác sĩ Vũ Hồng Tuân phân tích báo cáo, thời gian từ lúc đẻ đến khi được mổ của 43 bệnh nhân trong nhóm sơ sinh thay đổi từ 1 ngày đến 44 ngày. Trung bình là: 7,84 + 1,65 ngày. Thời gian chờ trước mổ phụ thuộc vào: khó khăn trong chẩn đoán, hồi sức trước mổ, liên quan đến bàn mổ… Điều trị trước mổ bao gồm: Đặt sonde dạ dày, ủ ấm, kháng sinh và truyền dịch theo cân nặng và mức độ mất nước được thực hiện ở tất cả các trường hợp. Có 14 bệnh nhân có chẩn đoán trước sinh tắc tá tràng được phẫu thuật trong ngày đầu sau đẻ chiếm 46,7%.
Tử vong sớm sau mổ: Trong nghiên cứu này có 1 bệnh nhân nặng xin về, nếu coi đó là bệnh nhân tử vong thì chiếm tỷ lệ 2,2%. Với sự tiến bộ của hồi sức sau mổ, những cải tiến trong kỹ thuật mổ và sự phát triển không ngừng của gây mê hồi sức sơ sinh, tỷ lệ tử vong của bệnh ngày càng được hạ thấp. Tỷ lệ tử vong sớm theo các tác giả Bailey (1993) &%, Salem (2007) 11,4%. Hay các nghiên cứu trong nước Nguyễn Thanh Liêm (1984) tại Bệnh viện Nhi Trung ương tỷ lệ tử vong là 52,6%, mới nhất thì Hồng Quí Quân (2011) tại bệnh viện Việt Đức thì tỷ lệ tử vong là 9,7%. Như vậy tỷ lệ tử vong chung sau mổ tắc tá tràng đã giảm đáng kể.
Kết luận nghiên cứu, tác giả cho biết, qua nghiên cứu 45 trường hợp bệnh nhân mổ tắc tá tràng bẩm sinh tại khoa phẫu thuật nhi bệnh viện Việt Đức giai đoạn 2010 đến năm 2015 nhận thấy tỷ lệ tử vong sau mổ tắc tá tràng bẩm sinh ngày càng giảm. Đó là sự phát triển của gây mê hồi sức và nhờ siêu âm trước sinh ngày càng phổ biến giúp cho công tác quản lý bệnh nhân sau sinh tốt hơn.
Lâm Quyên