Vừa qua nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Hữu Chiến cùng cộng sự Học viện Quân Y thực hiện nghiên cứu báo cáo đề tài “Khảo sát thực trạng cấp cứu ban đầu các bệnh nhân gãy xương ở cơ quan vận động trong 5 năm tại bệnh viện Quân Y 103”.

Đối tượng nghiên cứu là tất cả hồ sơ bệnh án (HSBA) của bệnh nhân ở mọi lứa tuổi, bị gãy xương ở cơ quan vận động, cấp cứu và điều trị lần đầu tiên tại bệnh viện Quân y 103 (BVQY 103), trong thời gian từ 01/1/2010 – 31/12/2014, lưu trữ tại phòng KHTH – BVQY 103.
Đây là nghiên cứu cắt ngang hồi cứu số liệu thứ cấp. Lựa chọn mẫu nghiên cứu, tiêu chí lựa chọn mẫu gồm các HSBA nghiên cứu được ghi chép rõ ràng, có đủ thông tin của các bệnh nhân mọi lứa tuổi bị gãy xương ở cơ quan vận động đơn thuần hoặc kết hợp với các tổn thương khác, đến cấp cứu và điều trị tại BVQY 103 trong 5 năm (từ 01/1/2010 – 31/12/2014).
Tiêu chuẩn loại trừ: HSBA không cung cấp đầy đủ các thông tin nghiên cứu. Bệnh nhân nhập viện điều trị lại, gãy xương bệnh lý. Bệnh nhân chấn thương sọ não, chấn thương cột sống hoặc chỉ gãy xương chậu đơn thuần. Bệnh nhân chấn thương gãy xương đã tử vong trước khi đến bệnh viện.
Tỷ lệ bệnh nhân được giảm đau tại chỗ 28,1%, tại cơ sở y tế 92,1%, PKCC 87,9%, tỷ lệ giảm đau chung 83,1%. Tỷ lệ bệnh nhân được băng bó tại chỗ 62,3%, cơ sở y tế 50,3%, PKCC 53,2% bổ sung băng bó hoặc băng bó lại, tỷ lệ băng bó chung 53,4%. Tỷ lệ bệnh nhân được cố định tạm thời tại chỗ 63,3%, cơ sở y tế 92,8%, PKCC 65,5% bổ sung và cố định chắc chắn tỷ lệ cố định chung 72,2%. Tỷ lệ sử dụng KS và SAT, tại chỗ tai nạn không sử dụng, y tế cơ sở là 20,7%, PKCC là 18,8%, tỷ lệ chung 17,4% (với p<0,01).
Tác giả Lương Mai Anh (2012) nghiên cứu 2036 trường hợp thương tích do tai nạn lao động thấy tỷ lệ thương tích được xử trí cấp cứu ban đầu là 60,8%. Tỷ lệ các trường hợp chưa xử trí là 35,2%. Tỷ lệ các trường hợp được cán bộ y tế sơ cấp cứu ban đầu là 59,4%, chủ yếu là ở tuyến tỉnh với 45,1%, tỷ lệ được sơ cứu ở cơ sở y tế tuyến huyện là 32,8%. Số trường hợp được sơ cấp cứu bởi trung tâm cấp cứu 115 chỉ chiếm 1,4% trong số các trường hợp được cán bộ y tế cấp cứu. Trạm y tế phường, BV Việt Đức, Xanhpon,… (30,1%). Nguyễn Thị Trúc Linh (2014) nghiên cứu thấy chỉ có 8,7% bệnh nhân bị tai nạn giao thông vào viện cho biết là được nhân viên y tế sơ cứu tại hiện trường xảy ra tai nạn.

Đánh giá việc sử dụng đồng thời nhiều phương pháp cấp cứu cùng lúc (Giảm đau, băng bó, cố định, KS + SAT) BS Chiến nhận thấy: Tại chỗ xảy ra tai nạn các phương pháp sử dụng chủ yếu là băng bó và cố định tạm thời, dùng 1 phương pháp cấp cứu 53,1%; dùng 2 phương pháp 40%; dùng 3 phương pháp 6,9% và không có trường hợp nào dùng cả 4 phương pháp. Tại y tế cơ sở, với trang thiết bị y tế và cán bộ ngành y thường trực nên bổ sung băng bó, cố định và sử dụng giảm đau, KS + SAT nên dùng 1 phương pháp 6,7%; dùng 2 phương pháp 50,1%; dùng 3 phương pháp 23,7% và dùng cả 4 phương pháp 19,5%. Tại PKCC, sau khi đã bổ sung cấp cứu ở y tế cơ sở, nên tỷ lệ sử dụng các phương pháp cấp cứu ít hơn, chủ yếu chỉ bổ sung các phương pháp cấp cứu mà tuyến dưới chưa thực hiện nên dùng 1 phương pháp 10,6%; dùng 2 phương pháp 51,7%; dùng 3 phương pháp 18,7% và dùng cả 4 phương pháp 13,8%.
Tác giả nghiên cứu có kết luận tỷ lệ bệnh nhân được cấp cứu tại khu vực nông thôn: tại chỗ (89,6%), y tế cơ sở (57,7%), PKCC (60%). Ở khu vực thành thị: cấp cứu tại chỗ đạt 37,3%, cấp cứu tại y tế cơ sở là 34,4% và cấp cứu ở PKCC là 37,3%. Ở khu vực miền núi: cấp cứu tại chỗ là 3,1%, tại y tế cơ sở là 7,9% và tại PKCC 2,7%.
Ở cả 3 địa điểm, tỷ lệ bệnh nhân được cấp cứu dưới 5 phút tại chỗ (97,7%); y tế cơ sở (99,1%) và PKCC (94,8%). Tỷ lệ bệnh nhân được cấp cứu trên 5 phút đến < 30 phút tại chỗ (0,8%); y tế cơ sở (0,7%) và PKCC (3,1%). Tỷ lệ bệnh nhân được cấp cứu > 30 phút tại chỗ (1,5%); y tế cơ sở (0,2%) và PKCC (2,1%).
Tỷ lệ bệnh nhân được giảm đau tại chỗ (28,1%); y tế cơ sở (92,1%) và PKCC (87,9%), tỷ lệ giảm đau chung 83,1%. Tỷ lệ bệnh nhân được băng bó tại chỗ (62,3%); y tế cơ sở (50,3%) và PKCC (53,2%) bổ sung băng bó hoặc băng bó lại, tỷ lệ băng bó chung 53,4%. Tỷ lệ bệnh nhân được cố định tạm thời tại chỗ (63,3%); y tế cơ sở (92,8%) và PKCC (65,5%) bổ sung và cố định chắc chắn tỷ lệ cố định chung 72,2%. Tỷ lệ sử dụng KS và SAT, tại chỗ tai nạn không sử dụng, y tế cơ sở là 20,7%, PKCC là 18,8%, tỷ lệ chung 17,4%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01.
Đánh giá việc sử dụng đồng thời nhiều phương pháp cấp cứu cùng lúc (Giảm đau, băng bó, cố định, KS + SAT): tỷ lệ bệnh nhân được sử dụng biện pháp giảm đau tại chỗ cao nhất tại cơ sở y tế 92,1%. Tỷ lệ bệnh nhân được băng bó cao nhất tại chỗ 62,3%. Tỷ lệ bệnh nhân được cố định cao nhất tại PKCC 65,5%.
Tại chỗ tai nạn dùng 1 phương pháp cấp cứu 53,1%; dùng 2 phương pháp 40%; dùng 3 phương pháp 6,9% và không có trường hợp nào dùng cả 4 phương pháp. Tại y tế cơ sở dùng 1 phương pháp 6,7%; dùng 2 phương pháp 50,1%; dùng 3 phương pháp 23,7% và dùng cả 4 phương pháp 19,5%. Tại PKCC dùng 1 phương pháp 10,6%; dùng 2 phương pháp 51,7%; dùng 3 phương pháp 18,7% và dùng cả 4 phương pháp 13,8%.
Lâm Quyên