Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người đã đạt được nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị ung thư đại trực tràng. Tuy vậy, ung thư đại trực tràng là bệnh lý thường tiến triển chậm và các triệu chứng ít rõ ràng nên khiến bệnh nhân vào viện muộn, hay được chẩn đoán muộn, ảnh hưởng rất lớn đến công tác điều trị, theo dõi cũng như tiên lượng của bệnh nhân.

Nồng độ CEA có thể được đo trong huyết thanh và có thể hữu ích như một dấu hiệu chỉ điểm ung thư. Bởi vì nồng độ của CEA thấp trong giai đoạn sớm của ung thư biểu mô đại trực tràng nên đo nồng độ CEA là một phương thức không phù hợp với việc sàng lọc ung thư. Nồng độ CEA trước phẫu thuật cao là một dấu hiệu tiên lượng xấu và tương quan với sự giảm thời gian sống còn sau phẫu thuật cắt bỏ ung thư đại trực tràng. Nồng độ CEA sau phẫu thuật không trở về bình thường có ý nghĩa trong phẫu thuật không giải quyết triệt căn những bệnh hệ thống còn tiềm ẩn. Thường xuyên theo dõi nồng độ CEA sau phẫu thuật có thể cho phép xác định liệu bệnh nhân còn di căn không sau phẫu thuật cắt bỏ, hoặc sau điều trị. Việc theo dõi nồng độ CEA không những phản ánh tốt đẹp đáp ứng điều trị mà còn có thể xác định bệnh đã thực sự ổn định hay chưa sau hóa xạ trị kết hợp, góp phần quan trọng trong tiên lượng bệnh.
Trong hai năm 2016-2017, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Ngọc Hà cùng cộng sự trường Đại học Y Dược Thái Nguyên; Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Đánh giá sự thay đổi nồng độ CEA ở bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng trước và sau điều trị” nhằm mục tiêu: Phân tích sự thay đổi nồng độ CEA huyết thanh ở bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng trước và sau điều trị tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.
Theo bác sĩ Hà, đối tượng nghiên cứu là 54 bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng, tuổi từ 27 đến 76 tuổi. Những bệnh nhân này được chẩn đoán xác định bằng kết quả giải phẫu bệnh, được xếp loại TNM và giai đoạn lâm sàng theo AJCC, có hồ sơ lưu trữ đầy đủ, được điều trị phẫu thuật kết hợp hóa trị. Tiêu chuẩn loại trừ: bệnh nhân bỏ dở điều trị, không có hồ sơ lưu trữ đầy đủ.
Bác sĩ Hà cho biết, kết quả nghiên cứu: trong 54 bệnh nhân được xét nghiệm CEA trước phẫu thuật thì 38,9% có nồng độ CEA cao hơn giá trị bình thường. Nồng độ trung bình: 28,3 + 64,3. Cao nhất là 152,5ng/l. Tỷ lệ này tương đương với nghiên cứu của Võ Văn Hiền (46,9%) cũng như của Louhimo và cộng sự (44%). Như vậy, không phải tất cả các bệnh nhân ung thư đại trực tràng sẽ có một CEA tăng cao ngay cả khi ung thư của họ đã lan rộng. Một số bệnh nhân ung thư đại trực tràng không sản xuất ra nó. Ngoài ra, một số bệnh nhân không bị ung thư có thể có một xét nghiệm máu CEA tăng cao. Khoảng 15% người hút thuốc lá có CEA tăng nhưng không có ung thư đại trực tràng. Điều này cho thấy nồng độ CEA không phải là xét nghiệm có giá trị trong chẩn đoán ung thư đại trực tràng. Tuy nhiên, tăng nồng độ CEA trước phẫu thuật là một yếu tố dự đoán độc lập cho một tiên lượng xấu đối với bệnh nhân.

Định lượng nồng độ CEA được khuyến cáo chỉ định trước và 3 tháng/lần trong vòng hai năm đầu sau phẫu thuật cắt bỏ ung thư đại trực tràng. Tình trạng CEA giảm trở về giá trị bình thường sau phẫu thuật ở một bệnh nhân có tăng nồng độ CEA trước phẫu thuật mang ý nghĩa là khối u đã được cắt bỏ hoàn toàn, trái lại nồng độ CEA vẫn tiếp tục tăng cao sau phẫu thuật là một dấu hiệu chỉ điểm vẫn còn ung thư tồn dư. Trong số bệnh nhân được xét nghiệm CEA sau phẫu thuật thì 31,5% trường hợp có CEA cao hơn giá trị bình thường. Trong đó, nồng độ trung bình CEA là 15,3 + 18,4, cao nhất là 56,9ng/l. Đây có thể là một dấu hiệu dự báo tình trạng tái phát và di căn sau này của bệnh nhân.
So sánh nồng độ CEA trung bình trước và sau phẫu thuật (n=54) cho thấy: nồng độ trung bình CEA trước phẫu thuật: 28,3 + 64,3ng/l, sau phẫu thuật là 8,3 + 9,4ng/l. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Kết quả nghiên cứu cũng phù hợp với nghiên cứu của Võ Văn Hiền (r=0,534; p<0,05) và Đặng Công Thuận, Forones NM1, Tanaka M. Như vậy có thể xem nồng độ CEA là một trong những yếu tố đánh giá hiệu quả của điều trị phẫu thuật.
Đồng thời, khi đánh giá nồng độ CEA trên các bệnh nhân có di căn xa cho thấy: nồng độ CEA ở những bệnh nhân có di căn xa là 22,6 + 30,2ng/ml cao hơn nồng độ CEA ở những bệnh nhân có di căn xa là 17,8 + 26,7ng/ml, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Kết quả của nghiên cứu cũng phù hợp với các tác giả Berkovich L, et al; Cetin B, et al; Phạm Đức Lộc, Nguyễn Danh Thanh, Bệnh viện 103. Theo Thomas L. và cộng sự 1998, đối với mỗi bệnh nhân, một mức độ CEA huyết tương ban đầu được xác dịnh làm nền cho sự theo dõi sự diễn biến của bệnh. Khi mức độ CEA tăng dai dẳng ít nhất trên 2 tháng, có khả năng ung thư bị tái phát. Dựa vào mức độ tăng của CEA, giá trị chẩn đoán (+) tính tái phát sau mổ là 65-84%, giá trị chẩn đoán (-) tính là 85-95%.
Đánh giá nồng độ CEA ở các giai đoạn cho thấy: nồng độ CEA ở giai đoạn II là 7,8 + 6,7ng/ml là thấp nhất và nồng độ tăng cao ở các giai đoạn II và IV tương ứng là 14,4 + 19,8ng/ml và 29,6 + 33,5ng/ml, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Như vậy nồng độ CEA là một trong những dấu hiệu có giá trị trong tiên đoán khả năng di căn xa ung thư biểu mô đại trực tràng.
CEA là một trong những yếu tố giá trị trong theo dõi đáp ứng điều trị. Với một bệnh lý có tăng CEA, sau điều trị nồng độ CEA giảm thấp nghĩa là các tế bào bài tiết CEA đã được loại bỏ và khi nồng độ CEA tăng trở lại nghĩa là bệnh có khả năng tái phát. Tác giả nghiên cứu đã theo dõi nồng độ CEA trong quá trình điều trị cho thấy: nhóm bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn có nồng độ CEA giảm hẳn so với trước điều trị (p<0,05), ngược lại nhóm đáp ứng kém, không đáp ứng và có tái phát và di căn thì nồng độ CEA cao hơn có ý nghĩa thống kê so với trước điều trị (p<0,05). Điều này cho thấy, theo dõi nồng độ CEA là một việc rất quan trọng trong đánh giá đáp ứng điều trị, đồng thời phát hiện sớm tình trạng tái phát hay di căn của ung thư đại trực tràng.
Bác sĩ Ngọc Hà có kết luận cho nghiên cứu là, có 38,9% các trường hợp ung thư đại trực tràng có nồng độ CEA trước phẫu thuật cao hơn bình thường. Nồng độ trung bình của CEA trước phẫu thuật là 28,4 + 64,3ng/ml cao hơn nồng độ CEA sau phẫu thuật 8,3 + 9,4ng/ml (p<0,05). Nồng độ CEA ở bệnh nhân giai đoạn muộn và di căn xa cao hơn có ý nghĩa ở bệnh nhân giai đoạn sớm và không di căn (p<0,05). Theo dõi quá trình điều trị cho thấy những bệnh nhân kém hoặc không đáp ứng điều trị thì nồng độ CEA tăng (p<0,05).
Tường Huân