[Đăng ngày: 30/01/2019]
Từ tháng 1/2013 đến tháng 12/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thành Nam cùng cộng sự bệnh viện Bạch Mai, Học viện Quân Y thực hiện nghiên cứu mô tả, tiến cứu báo cáo đề tài “Nguyên nhân yếu tố nguy cơ tử vong ở trẻ sơ sinh bị suy hô hấp nặng cần thở máy ngay sau đẻ”.

Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu là tất cả trẻ sơ sinh sau sinh tại khoa Sản – Bệnh viện Bạch Mai được chẩn đoán là suy hô hấp nhập viện điều trị và phải thở máy tại phòng điều trị tích cực sơ sinh Khoa Nhi - Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1/2013 đến tháng 12/2015.

Bác sĩ Nam báo cáo, có 139 trẻ sơ sinh suy hô hấp ngay sau đẻ trong đó có 68 trẻ phải điều trị bằng máy thở, trẻ trai là 33 cháu chiếm 48,5% còn trẻ gái là 35 cháu chiếm 51,5%. Trong khi đó ở nhóm không phải thở máy xâm nhập trẻ trai là 47 trẻ chiếm 66,2% trong nhóm. Trong 68 trẻ có 42 trẻ được sinh mổ chiếm 61,7% trong đó mổ đẻ chủ động chưa chuyển dạ là 30 trường hợp chiếm đến 44,1%. Còn nhóm chứng số trẻ sinh mổ là 47 trẻ chiếm 66,2% và mổ đẻ chủ động chưa chuyển dạ chiếm 40,8% (29 trường hợp). Trong số 68 trẻ suy hô hấp phải thở máy có 47 trẻ được ra viện, chiếm tỷ lệ 69,1%, còn nhóm không thở máy xâm nhập ra viện 100%.

Tác giả nghiên cứu phân tích, các trường hợp suy hô hấp trong nghiên cứu đã được chăm sóc và điều trị bằng các phương pháp hỗ trợ hô hấp khác nhau từ thở oxy đơn thuần, thở CPAP, thở không xâm nhập đến cao nhất là hỗ trợ bằng máy thở xâm nhập, HFO. Nhóm nghiên cứu tiến hành nghiên cứu trên 139 bệnh nhi suy hô hấp ngay sau đẻ trong đó có 68 trẻ được điều trị thở máy xâm nhập nhằm đánh giá sơ bộ một số nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến suy hô hấp nặng ngay sau đẻ ở trẻ sơ sinh phải thở máy điều trị.

Trong số trẻ suy hô hấp phải thở máy thì tỷ lệ trẻ non tháng chiếm 73,5% trong đó trẻ < 32 tuần tuổi thai chiếm đến 47,1% trong khi đó nhóm suy hô hấp không điều trị thở máy xâm nhập số trẻ < 32 tuần chỉ có 9,9%. Đây là một trong các yếu tố nguy cơ hay cũng là một trong các nguyên nhân gây suy hô hấp nặng ở trẻ sơ sinh sau đẻ. Theo báo cáo của Fidanovski D và cộng sự năm 2005 cho thấy tỷ lệ trẻ sơ sinh cân nặng < 1000g suy hô hấp phải thở máy được cứu sống chiếm 25% và tăng lên đến 53% ở trẻ cân nặng > 2500g. Trong nghiên cứu số trẻ nhẹ cân (<2500g) bị suy hô hấp phải điều trị thở máy là 49/68 trẻ và tỷ lệ trẻ nhẹ cân tử vong do suy hô hấp thở máy chiếm tới 76% còn tỷ lệ sống sót sau điều trị hô hấp bằng máy thở ở nhóm cân nặng > 2500g là 73,7%. Như vậy trẻ càng nhẹ cân thì tỷ lệ tử vong sau điều trị suy hô hấp bằng máy thở càng tăng lên.

Tỷ lệ tử vong của nhóm nghiên cứu 21/68 ca chiếm 31%. Trong nhóm nghiên cứu bệnh lý về phổi hoặc liên quan đến phổi có 34/68 trường hợp chiếm 50% trong đó tỷ lệ trẻ ngạt có tỷ lệ cao nhất 20/34 trẻ (29%). Đây là vấn đề cần quan tâm nhằm giảm tỷ lệ trẻ ngạt và thực hiện tổ chức tốt hồi sức sau sinh giúp giảm tử vong và biến chứng cho trẻ về sau. Trẻ đẻ non phải điều trị thở máy 22%, trong nhóm không phải thở máy xâm nhập tỷ lệ trẻ đẻ non là 39% trong khi đó theo báo cáo của Tăng Chí Thượng, trong 6 tháng cuối năm 2007 có 91,2% trẻ sơ sinh bị suy hô hấp vào khoa sơ sinh, trong đó 1/3 trường hợp là trẻ sơ sinh đẻ non. Các trường hợp tim bẩm sinh hay gặp ở đây là các trường hợp còn ống động mạch lớn phải đóng ống nội khoa và tăng áp động mạch phổi. Đây là những nguyên nhân thường gặp gây suy hô hấp tại Khoa Nhi bệnh viện Bạch Mai có thể can thiệp được với sự hỗ trợ của trang thiết bị, thuốc và đặc biệt là việc phối hợp các chuyên khoa trong bệnh viện.

Mổ đẻ, đặc biệt là mổ đẻ chủ động cũng là một trong những yếu tố tăng khả năng trẻ sinh ra bị suy hô hấp. Trong 68 trẻ thì có tới 42 trẻ là sinh mổ và mổ đẻ chủ động là 30 trường hợp chiếm 44% tổng số ca suy hô hấp phải điều trị thở máy xâm nhập. Camille Le Ray và cộng sự và một số nghiên cứu khác nghiên cứu những sản phụ mổ đẻ chưa có dấu hiệu chuyển dạ có tuổi thai 34-37 tuần cho thấy sự tăng của trẻ sơ sinh suy hô hấp nặng sau đẻ. Đây là một vấn đề cần phải nghiên cứu thêm để có những bằng chứng thuyết phục hơn nhằm hạn chế việc mổ đẻ chủ động chưa có dấu hiệu chuyển dạ (mổ đẻ theo yêu cầu).

Bác sĩ Nam có kêt luận:
- Các nguyên nhân thường gặp gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh chủ yếu là các bệnh lý phổi hoặc liên quan đến phổi như ngạt, bệnh màng trong, viêm phổi … và tim bẩm sinh: còn ống động mạch lớn, tăng áp động mạch phổi… Đây là những nguyên nhân có thể can thiệp được.

- Các yếu tố ảnh hưởng kết quả điều trị thở máy bao gồm: đẻ non, nhẹ cân, mổ đẻ chủ động chưa chuyển dạ, mẹ có bệnh lý nội khoa… Những yếu tố này có thể tiên lượng và can thiệp được như: tổ chức tốt hồi sức sơ sinh ngay sau đẻ với sự kết hợp với bác sĩ Nhi, can thiệp bệnh lý của bà mẹ bằng sự phối hợp chặt chẽ các chuyên khoa sâu trong bệnh viện.

- Tỷ lệ tử vong là 21/68 trường hợp trong nghiên cứu trong đó phần nhiều là trẻ cực non và cân nặng cực thấp, khả năng sống rất thấp.
Minh Tâm
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 158

Số lượt truy cập: 9286698

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang