Thoái hóa khớp là bệnh lành tính tiến triển chậm. Tuy nhiên có nhiều trường hợp khớp tổn thương gây đau đớn, ảnh hưởng đến lao động và sinh hoạt hàng ngày. Trong thoái hóa khớp, thoái hóa khớp gối là bệnh hay gặp, tỷ lệ bệnh gặp ở người lớn là 6% và lên tới 40% ở người trên 70 tuổi. Thoái hóa khớp gối ảnh hưởng nhiều đến chức năng vận động của khớp, đặc biệt thoái hóa khớp gối nặng là nguyên nhân gây tàn phế của nhiều bệnh nhân, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống, kéo theo sự chi phí tốn kém của gia đình và xã hội. Vì vậy thoái hóa khớp ngày càng được quan tâm trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng, đặc biệt ở các nước có nền kinh tế phát triển và có tuổi thọ cao.

Hiện nay có nhiều phương pháp để đánh giá các tổn thương khớp như X-quang, cộng hưởng từ, siêu âm. Mỗi phương pháp có ưu điểm và nhược điểm riêng. Cộng hưởng từ có thể đánh giá chính xác được các tổn thương của xương và các tổ chức phần mềm. Tuy nhiên cộng hưởng từ có giá thành khá cao. Siêu âm có ưu điểm là kỹ thuật chẩn đoán nhanh có thể thực hiện ở tuyến cơ sở, giá thành không cao, không xâm lấn, và có hiệu quả trong đánh giá tổn thương phần mềm quanh khớp. sụn khớp, bào mòn xương. Kết hợp với X-quang là phương pháp thường qui, rẻ tiền, dễ thực hiện và phát hiện được những tổn thương của khớp gối. Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về vai trò của siêu âm và X quang trong chẩn đoán bệnh lý khớp.
Trong năm 2014, nhóm tác giả nghiên cứu Lê Văn Thêm cùng cộng sự trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “ Đánh giá thoái hóa khớp gối dựa trên chụp X-quang và Siêu âm”.
Tác giả nghiên cứu phân tích báo cáo, bệnh thoái hóa khớp thường gặp ở đối tượng sau tuổi 38. Trong nghiên cứu có 80 bệnh nhân, tuổi dao động từ 38-85, tuổi trung bình của bệnh nhân là 61.5. Theo nghiên cứu của Lê Thị Liễu năm 2009 thì độ tuổi trung bình của bệnh nhân thoái hóa khớp là 60 + 8. Còn trong nghiên cứu của E.de Miguel Mendieta, tuổi trung bình của bệnh nhân là 66.75 + 8.67.
Đối với giới, tỷ lệ bệnh nhân nữ trong nghiên cứu là 78,75%. Theo nghiên cứu của EULAR năm 2005 thì nữ chiếm 72,5%. Nghiên cứu của E.de Miguel Mendieta năm 2006 tỷ lệ nữ chiếm 94/101 (91.09%). Nghiên cứu của Mermerci BB năm 2011 nữ giới chiếm 116/143 (81.12%). Tuy nhiên qua các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nữ giới thường gặp cao hơn nam giới.
Về tràn dịch khớp gối: khớp gối được đánh giá là tràn dịch khi dịch khớp gối có bề dày lớn hơn 3cm. Trong nghiên cứu tỷ lệ tràn dịch khớp gối là 61/80 gối (76,25%). Trong nghiên cứu của Lê Thị Liễu năm 2009 tỷ lệ tràn dịch khớp là 57,7% (do đã tính cộng dồn cả tràn dịch và viêm màng hoạt dịch). Nghiên cứu của EULAR năm 2005, tỷ lệ tràn dịch khớp là 43,7. Mermerci BB năm 2011 tỷ lệ tràn dịch (đã cộng dồn với viêm màng hoạt dịch) được tính chung cho 2 nhóm nghiên cứu là 48,57%. Như vậy tỷ lệ tràn dịch của các nghiên cứu là khác nhau. Điều này có thể lý giải do cách chọn bệnh nhân và cỡ mẫu có thể chưa đủ lớn.
Về viêm màng hoạt dịch: màng hoạt dịch khớp gối được đánh giá là viêm khi màng hoạt dịch tăng sinh và có bề dày > 3mm. Trong nghiên cứu tỷ lệ phát hiện có dày màng hoạt dịch 23/80 (28,75%). Nghiên cứu của Lê Thị Liễu năm 2009 tỷ lệ này là 7,7%. Nghiên cứu của Iagnocco A năm 2010, tỷ lệ này là 22,1%.
Đối với kén Baker: trong nghiên cứu tỷ lệ phát hiện có kén Baker là 16/80 (20%). Nghiên cứu của Lê Thị Liễu năm 2009 tỷ lệ có kén Baker là 17,7%. Nghiên cứu của E.de Miguel Mendieta năm 2006 tỷ lệ này là 32,6% và nghiên cứu của Iagnocco A năm 2010, tỷ lệ này là 6,6%.

Về mối liên quan giữa siêu âm, X-quang: gai xương là một dấu điển hình của bệnh lý thoái hóa khớp, đồng thời nó cũng là một trong yếu tố của tiêu chuẩn chẩn đoán ACR 1991. Trong tổn thương của thoái hóa khớp, gai xương thường có ở các giai đoạn. Giai đoạn sớm gai xương nhỏ và thường ở 1 vị trí, giai đoạn sau gai xương rõ và có thể ở nhiều vị trí. Trong nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu sử dụng siêu âm và X-quang đánh giá gai xương tại 2 vị trí là khe đùi chày trong và khe đùi chày ngoài. Sự xuất hiện của gai xương có mặt ở tất cả các giai đoạn của thoái hóa khớp. Trong nghiên cứu của Cicuttini FM và cộng sự năm 1996 cho thấy sự hiện diện của gai xương cũng đã được cho thấy có liên quan chặt chẽ tới triệu chứng đau trên lâm sàng, gai xương đồng thời cũng được chứng minh là nguy cơ gây đau trong thoái hóa khớp với tỷ suất chênh OR=7,56. Như vậy việc phát hiện gai xương có giá trị lớn trong chẩn đoán thoái hóa khớp. Trong nghiên cứu tỷ lệ phát hiện gai xương tại 2 vị trí là khe đùi chày trong và khe đùi chày ngoài trên siêu âm đều là 30% so với X-quang là 36,25% và 32,25%. Đối chiếu giữa hai phương pháp này thì tỷ lệ phát hiện gai xương giữa hai phương pháp (ở 2 vị trí khe đùi chày) X-quang phát hiện gai xương tốt hơn so với siêu âm. Trong nghiên cứu của Lê Thị Liễu năm 2009, nếu cũng đánh giá tại hai vị trí trên thì tỷ lệ phát hiện gai xương của siêu âm là 76,2% và 31,5% so với X quang là 77% và 46%; tỷ lệ phát hiện gai xương tại hai vị trí trên X quang lớn hơn siêu âm. Điều này cho thấy giá trị của X quang trong việc phát hiện gai xương là tốt hơn so với trên siêu âm.
Tác giả nghiên cứu có kết luận:
- Tỷ lệ phát hiện gai xương trên X quang là 36,25% tại các vị trí khe đùi chày trong, 32,5% tại các vị trí khe đùi chày ngoài và 67,5% tại vị trí xương bánh chè.
- Tỷ lệ phát hiện hẹp khe khớp trên x quang là 37,5% tại các vị trí khe đùi chày trong, 28,75% tại các vị trí khe đùi chày ngoài và 63,75% tại vị trí đùi chè.
- Tỷ lệ phát hiện đặc xương dưới sụn trên XQ là 35% tại các vị trí khe đùi chày trong và 31,25% tại các vị trí khe đùi chày ngoài.
- Tỷ lệ phát hiện gai xương trên siêu âm là 42,5%, tràn dịch khớp trên siêu âm 76,25%, tăng màng hoạt dịch là 28,75%, kén Baker 20%.
Hoa Phượng