
Rung nhĩ là một trong những rối loạn nhịp tim thường gặp nhất trong cộng đồng và thường gây ra những biến chứng nặng nề.
Rung nhĩ có thể là nguyên nhân gây ra khoảng 5% các trường hợp đột quỵ mỗi năm. Bệnh nhân suy tim có kèm theo rung nhĩ tỷ lệ tử vong tăng đến 34%. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, điện sinh lý tim trên bệnh nhân rung nhĩ kịch phát giúp cho việc điều trị rung nhĩ bằng can thiệp triệt đốt hay phẫu thuật Maze đạt được tỷ lệ thành công cao và hạn chế được tối thiểu các biến chứng khi can thiệp điều trị rung nhĩ.
Từ tháng 10/2009 đến tháng 3/2014 nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Trần Linh, Phạm Quốc Khánh cùng cộng sự Bệnh viện Tim mạch Việt Nam thực hiện nghiên cứu “Đặc điểm lâm sàng và điện sinh lý tim trên bệnh nhân rung nhĩ kịch phát”.
Có 42 bệnh nhân được chẩn đoán xác định là cơn rung nhĩ kịch phát trên lâm sàng, Điện tâm đồ 12 chuyển đạo, và thăm dò điện sinh lý tim. Về tiến hành thủ thuật đặt điện cực, bệnh nhân được gây tê tại vị trí chọc tĩnh mạch bằng Novocain. Dưới hướng dẫn của màn huỳnh quang tăng sáng kỹ thuật số, các dây điện cực được đưa tới các vị trí cần thiết giúp cho quá trình thăm dò điện sinh lý tim và đốt bằng sóng có tần số Radio. Thông thường các dây điện cực cần thiết bao gồm dây điện cực xoang vành, nhĩ phải, thất phải, His. Dây điện cực xoang vành mười cực, 6F, thường được đưa qua đường tĩnh mạch dưới đòn trái. Dây điện cực thất phải, nhĩ phải, His 4 cực, 5F được đưa qua đường tĩnh mạch đùi phải. Dây điện cực lập bản đồ nội mạc và triệt đốt qua đường tĩnh mạch đùi phải sau khi đã thăm dò điện sinh lý tim. Lập bản đồ nội mạc, chọc vách liên nhĩ, vị trí chọc vách liên nhĩ được xác định bằng dấu mốc nằm trên đường giữa của đầu thông pigtail và bờ ngoài bóng nhĩ trái. Qua lỗ chọc vách liên nhĩ, nhóm nghiên cứu đưa catheter Lasso 10 cực 6F, đường kính 15mm vào nhĩ trái ghi điện thế của tĩnh mạch phổi, và đưa catheter NAVI STAR, 7F, irrigated sang nhĩ trái để lập bản đồ ba chiều nhĩ trái và cô lập tĩnh mạch phổi. Ghi điện thế gốc 4 tĩnh mạch phổi bằng điện lực Lasso gồm có tĩnh mạch phổi trên trái, tĩnh mạch phổi dưới trái, tĩnh mạch phổi trên phải và tĩnh mạch phổi dưới phải. Dựng hình 3D buồng nhĩ trái dưới sự hỗ trợ của hệ thống lập bản đồ điện học 3 chiều có tác dụng chuyển những tín hiệu điện thế thành các cấu trúc 3D, đưa điện cực ghi nhận tín hiệu điện trong buồng nhĩ, qua các tĩnh mạch phổi, lỗ đổ vào của tiểu nhĩ trái, vòng van hai lá và dựng hình 3 chiều điện học nhĩ trái. Thăm dò điện sinh lý tim và đo các khoảng dẫn truyền cơ bản, ghi nhận điện thế hoạt động điện sớm trong cơn rung nhĩ và vị trí ngoại tâm thu nhĩ khởi phát rung nhĩ, các khoảng dẫn truyền PA, AH, HH, HV, thời gian QRS, QT, thời gian chu kỳ nhịp cơ sở, kích thích nhĩ và thất đánh giá chức năng điện sinh lý tim.
Theo báo cáo của BS. Phạm Quốc Khánh, trong 42 đối tượng nghiên cứu có 36 nam (85,7%), nữ có 06 ca (14,3%). Độ tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 55,9; tuổi cao nhất 70, trẻ nhất là 27 tuổi. Lứa tuổi trung niên chiếm 67,5%, lứa tuổi dưới 50 chiếm 62,6%. Kết quả ghi Holter Điện tâm đồ 24 giờ để tìm hiểu về thời gian xuất hiện cơn rung nhĩ và nhận thấy cơn rung nhĩ khởi phát vào tất cả các thời điểm trong ngày, trong đó có 37 bệnh nhân có xuất hiện cơn rung nhĩ vào buổi sáng (86,0%), buổi chiều và tối 42 bệnh nhân có xuất hiện cơn rung nhĩ (100%). Đặc biệt buổi đêm cũng có tới 58,1% bệnh nhân bị xuất hiện cơn rung nhĩ. Có 86% bệnh nhân xuất hiện rung nhĩ không liên quan đến gắng sức.
Nhận xét chung về các khoảng dẫn truyền trong cơn rung nhĩ, nhóm tác giả nghiên cứu lưu ý ở bệnh nhân rung nhĩ vai trò của dẫn truyền qua nút nhĩ thất rất quan trọng đã làm giảm đáng kể xung động từ nhĩ xuống thất nên duy trì được tần số thất trong khoảng thích nghi. Ở những bệnh nhân dẫn truyền qua nút nhĩ thất tốt đáp ứng tần số thất nhanh hơn ở những bệnh nhân dẫn truyền qua nút nhĩ thất kém hơn.
BS. Phạm Quốc Khánh có kết luận là 100% bệnh nhân rung nhĩ cơn đều cảm thấy hồi hộp đánh trống ngực. Các triệu chứng khác gồm mệt mỏi chiếm 72,1%, đau ngực chiếm 69,3%, khó thở khi gắng sức chiếm 41,9%. Mức độ triệu chứng của bệnh nhân theo thang điểm EHRA là 3,19 ± 0,45. Các khoảng dẫn truyền như thời gian chu kỳ nhịp xoang, dẫn truyền trong nhĩ, dẫn truyền nhĩ thất, khử cực thất ở bệnh nhân rung nhĩ kịch phát cũng tương tự như ở người bình thường. Thời gian trơ cơ nhĩ, thời gian chu kỳ cơ bản, thời gian phân ly nhĩ thất ở những bệnh nhân trên 60 tuổi đều kéo dài hơn nhóm bệnh nhân dưới 60 tuổi. Các khoảng dẫn truyền trong cơn rung nhĩ như khoảng dẫn truyền trong nhĩ (AA) hay dẫn truyền trong thất (VV) trong cơn rung nhĩ ở bệnh nhân trên và dưới 60 tuổi không có sự khác biệt.
Ngoại tâm thu nhĩ kích hoạt cơn rung nhĩ có tới trên 70% các trường hợp xuất phát từ lỗ tĩnh mạch phổi đổ về nhĩ trái. Đặc biệt có tới 83,3% ngoại tâm thu nhĩ khởi phát từ tĩnh mạch phổi trái trên trong khi chỉ có 4,8% ngoại tâm thu nhĩ khởi phát từ nhĩ phải. Như vậy, phần lớn (>70%) các trường hợp khởi phát rung nhĩ đều xuất phát từ các tĩnh mạch phổi do đó khi can thiệp triệt đốt rung nhĩ hay phẫu thuật Maze việc cô lập điện học giữa tĩnh mạch phổi và nhĩ trái giữ vai trò quan trọng đảm bảo thành công của các phương pháp điều trị.
Hồng Sơn