
Amiđan khẩu cái (Amiđan) là hai khối tổ chức bạch huyết lớn nhất của vòng Waldeyer nằm ở thành bên họng miệng, amiđan có vai trò sinh miễn dịch tạo ra kháng thể và các lympho bào.
Theo chỉ dẫn của Hội nghị Tai Mũi Họng toàn quốc năm 2003 chỉ định cắt amiđan được áp dụng cho những bệnh nhân viêm tái phát nhiều lần trong năm, viêm gây biến chứng và viêm gây tắc nghẽn đường thở.
Cho đến nay cắt amiđan vẫn là phẫu thuật đầu tay của các phẫu thuật viên tai mũi họng. Tuy chỉ là một trung phẫu nhưng cắt amiđan cũng có thể gây ra nhiều biến chứng như chảy máu, đau sau mổ, biến chứng gây mê, nhiễm trùng … có thể gây tử vong. Hiện nay có rất nhiều phương tiện dùng để cắt amiđan được áp dụng như phẫu thuật bằng Sluder, bằng dao điện, Laser, Coblator, dao Plasma … Mỗi phương tiện lại có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau.
Từ tháng 10/2014 đến tháng 10/2015, bác sĩ Nguyễn Quang Trung cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá kết quả phương pháp cắt amiđan bằng dao Plasma”.
Các nội dung nghiên cứu bao gồm đặc điểm tuổi, giới đối tượng nghiên cứu, lý do vào viện: đau họng, nuốt vướng, ngủ ngáy, hôi miệng, u amiđan. Các triệu chứng cơ năng thường gặp: đau họng, nuốt khó, ngủ ngáy, hôi miệng. Điều trị trước phẫu thuật: có, không. Mức độ quá phát của amiđan: Mức độ quá phát của miđan dựa theo mức độ thu hẹp eo họng của Brodsky, Leove và Stanievich.
Độ 0: 2 amiđan không ảnh hưởng tới đường thở.
Độ I: Amiđan gây hẹp eo họng dưới 25%.
Độ II: Amiđan gây hẹp eo họng từ 25-50%.
Độ III: Amiđan gây hẹp eo họng từ 50-75%.
Độ IV: Amiđan gây hẹp eo họng >75%.
Thời gian phẫu thuật (phút): Được tính từ lúc đặt banh phẫu thuật mở miệng cho đến khi lấy hết mô amiđan hai bên, cầm máu hoàn toàn.
Lượng máu mất trong phẫu thuật: ước lượng máu mất theo lượng máu thấm ướt gạc (1-5ml).
Các biến chứng sau phẫu thuật:
Chảy máu sau mổ: Theo phân loại của Windfuhr.
Chảy máu sớm (< 24h sau khi cắt amiđan).
Chảy máu muộn (> 24h sau khi cắt amiđan).
Mức độ: nhẹ, vừa, nặng.
Đánh giá mức độ đau và thời gian hồi phục:
Các bảng đánh giá mức độ đau: Bệnh nhân được đánh giá mức độ đau ở ngày thứ 1, ngày thứ 2, ngày thứ 7 và ngày thứ 14 sau phẫu thuật.
Đối với bệnh nhân < 12 tuổi dựa vào thang điểm Wong-Baker cũng tìm hiểu số lần dùng thuốc giảm đau trong ngày.
Thời gian dùng thuốc giảm đau (tính theo ngày), lượng thuốc tính theo kg cân nặng.
Thời gian có thể ăn uống bình thường:
Đánh giá tình trạng tiến triển của hốc amiđan sau phẫu thuật: dựa trên những quan sát về hốc amiđan vào ngày thứ nhất, ngày tái khám thứ 7 và thứ 14 sau phẫu thuật.
Ngày thứ nhất:
Tốt: Giả mạc mỏng, màu trắng đều khắp hốc mổ.
Không tốt: Giả mạc dầy, màu đen xám không đều.
Ngày thứ 7:
Tốt: Giả mạc bong được < 50%, không chảy máu.
Không tốt: Giả mạc bong được < 25% có chảy máu hoặc có nhiễm khuẩn hốc mổ.
Ngày thứ 14:
Tốt: Giả mạc bong 100%, không chảy máu, không sẹo co kéo hốc mổ.
Không tốt: Giả mạc bong < 100% có chảy máu hoặc sẹo co kéo hốc mổ.
Theo phân tích của bác sĩ Nguyễn Quang Trung, thời gian phẫu thuật trung bình là 14,8 phút, ca nhanh nhất là 5 phút và lâu nhất là 30 phút. Tác giả nghiên cứu nhận thấy không có sự khác biệt giữa thời gian phẫu thuật và các hình thái lâm sàng của amiđan, đa số bệnh nhân có thời gian phẫu thuật trong khoảng 11 – 20 phút. Để giải thích cho điều này theo BS Trung dao Plasma có đầu cắt mỏng nhỏ có thể uốn cong nên dễ dàng bóc tách theo bình diện giải phẫu của amiđan, bên cạnh đó đầu dao có tích hợp máy hút nên thuận tiện cho việc vừa cắt vừa hút máu, dịch và khói nên tiết kiệm thời gian phẫu thuật, cũng như phẫu thuật dễ dàng đối với những bệnh nhân có amiđan xơ teo hay quá phát.
Về lượng máu mất trung bình là 3,28ml, trong đó mất ít nhất là khoảng 1ml và nhiều nhất là khoảng 8ml. Lượng máu mất < 5ml có 82/89 bệnh nhân chiếm 92,1%, lượng máu mất 5-10ml có 8/89 bệnh nhân chiếm 7,9% và không có bệnh nhân nào trong nghiên cứu mất >10ml máu trong phẫu thuật.
So với nhiều nghiên cứu khác, BS Trung có nhận xét lượng máu mất trong phẫu thuật bằng dao Plasma thấp hơn các phương pháp khác vì dao Plasma cắt tổ chức ở nhiệt độ thấp, bóc tách theo sát bao amiđan nên hạn chế làm tổn thương các mạch máu.
Đồng thời dao Plasma có khả năng cầm máu trong phẫu thuật rất tốt đa số bệnh nhân chỉ phải dùng chính lưỡi dao để cầm máu, hạn chế dùng đông điện lưỡng cực. Điều này làm giảm mức độ đau cho bệnh nhân sau phẫu thuật cũng như làm quá trình bong giả mạc tốt hơn do dao Plasma cắt ở nhiệt độ thấp gây bỏng mô ở mức độ nông. Số bệnh nhân phải khâu cầm máu chiếm tỷ lệ thấp và tất cả các trường hợp đều là khâu dự phòng.
Về điểm đau trung bình là 3,85, điểm đau thấp nhất là 2 điểm và cao nhất là 6 điểm.
Điểm đau trung bình sau phẫu thuật ngày thứ 2 là 3,02 điểm; sau phẫu thuật ngày thứ 7 là 1,02 điểm. Có 25/89 bệnh nhân hết đau hoàn toàn. Tỷ lệ bệnh nhân còn cảm giác đau nhẹ chiếm 70,7%; 01 bệnh nhân đau ở mức độ trung bình. Sau 14 ngày phẫu thuật có 73/89 (82%) bệnh nhân hết đau, đau nhẹ còn 15 bệnh nhân.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có 2/89 bệnh nhân có biến chứng chảy máu nhẹ chiếm tỷ lệ 2,22%, trong đó có 1 bệnh nhân ở nhóm chỉ dùng dao Plasma và 1 bệnh nhân có dùng đông điện lưỡng cực để cầm máu. Xử trí cho bệnh nhân ngậm nước đá. Không có bệnh nhân chảy máu mức độ trung bình và mức độ nặng.
So với những nghiên cứu khác sử dụng phương pháp cắt amiđan bằng dao laser Gold và laser CO2 BS Trung cho rằng dao Plasma không những kiểm soát tốt cầm máu trong phẫu thuật mà còn hạn chế gây chảy máu sau phẫu thuật. Theo ý kiến của BS Trung do dao cắt ở nhiệt độ thấp nên hạn chế tổn thương mô và mạch máu, giả mạc sau phẫu thuật mỏng vì vậy nên trong quá trình bong giả mạc hạn chế chảy máu.
Số ngày trung bình bệnh nhân ăn uống bình thường sau phẫu thuật là 7,8 + 2,2 ngày, trong đó sớm nhất là 5 ngày và muộn nhất là 16 ngày. Số bệnh nhân ăn uống bình thường < 7 ngày có 57/89 bệnh nhân chiếm tỷ lệ cao nhất 64%. Số bệnh nhân ăn uống bình thường trong khoảng 7-14 ngày có 29/89 bệnh nhân có tỷ lệ 32,5%. Số bệnh nhân ăn uống bình thường > 14 ngày có 3/89 bệnh nhân có tỷ lệ thấp nhất 3,5%.
Đánh giá tình trạng giả mạc sau phẫu thuật 7 ngày có 80/89 bệnh nhân đã bong được 25-50% giả mạc chiếm 89,9% có 9,89 bệnh nhân đã bong được 50-75% giả mạc chiếm 10,1%. Sau phẫu thuật 14 ngày có 83/89 bệnh nhân bong hết giả mạc chiếm 93,2%, có 6/89 bệnh nhân đã bong được 75-100% giả mạc chiếm 6,8%.
Anh Huy