
Từ tháng 1/2013 đến tháng 4/2014, nhóm nghiên cứu gồm Lê Hoàng, Nguyễn Thị Liên Hương - Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá mối liên quan giữa chất lượng tinh trùng và tỷ lệ có thai sau bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI)”.
Đối tượng nghiên cứu là tất cả các cặp vợ chồng vô sinh thỏa mãn điều kiện vợ có ít nhất một vòi tử cung thông ≥ 1 nang 18mm vào ngày bơm IUI, khi thực hiện IUI bệnh nhân có niêm mạc tử cung ≥ 7mm, người chồng có tinh dịch đồ bình thường hoặc thiểu nhược tính mức độ nhẹ hoặc trung bình.
Có 284 cặp vợ chồng vô sinh, được thực hiện nghiên cứu tại phòng hỗ trợ sinh sản Bệnh viện Đại học Y Thái Bình. Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo thực hiện với chu kỳ tự nhiên hoặc kích thích buồng trứng (KTBT) bằng một trong 3 phác đồ: (1) phác đồ 1: Dùng Clomiphencitrat (CC) liều 100mg/ngày trong 5 ngày, bắt đầu từ ngày 2 chu kỳ kinh. (2) Phác đồ 2: FSH đơn thuần liều khởi đầu 50IU/ngày hoặc hMG đơn thuần liều khởi đầu 75IU bắt đầu từ ngày 2 chu kỳ kinh. (3) Phác đồ 3: CC+FSH hoặc CC + hMG. Khi nang noãn trưởng thành (đường kính ≥ 18mm), tiêm 5000IU hoặc 10.000IU hCG để kích thích phóng noãn. Bơm tinh trùng đã được lọc rửa vào buồng tử cung sau tiêm hCG 34-40h. Chuẩn bị tinh trùng cho bơm IUI: kiêng giao hợp 2-7 ngày trước khi lấy mẫu tinh dịch. Đánh giá mẫu trước lọc rửa theo tiêu chuẩn của WHO 2010. Mẫu tinh dịch được lọc rửa bằng phương pháp bơi lên hoặc thang nồng độ. Sau khi bơm tinh trùng vào buồng tử cung, dùng 200mg Progesteron đặt âm đạo hoặc uống trong 2 tuần để hỗ trợ hoàng thể. Xét nghiệm thử thai bằng định lượng βhCG 2 tuần sau khi bơm tinh trùng vào buồng tử cung. Nếu βhCG≥25mIU/ml, bệnh nhân được chỉ định siêu âm sau 2 tuần. Xác định có thai lâm sàng khi siêu âm thấy túi thai trong buồng tử cung.
Theo tác giả nghiên cứu, tỷ lệ có thai sinh hóa (qua xét nghiệm hCG dương tính) là 24,6% tính trên bệnh nhân và 23,3% tính theo số chu kỳ IUI. Tỷ lệ có thai lâm sàng (xác định bằng có thai sinh hóa kết hợp siêu âm có túi thai trong buồng tử cung) thấp hơn, ở mức 23,6% tính trên bệnh nhân và 22,3% tính trên số chu kỳ IUI.
Bs Lê Hoàng phân tích chất lượng tinh trùng của người chồng là yếu tố quan trọng góp phần cho sự thành công của kỹ thuật IUI. Chất lượng tinh trùng trước lọc rửa được đánh giá bằng một số thông số cơ bản như thể tích, mật độ tinh trùng, phần trăm tinh trùng di động, hình dạng tinh trùng bình thường và tỷ lệ tinh trùng sống. Khảo sát đặc điểm của tinh trùng trước lọc rửa trong nghiên cứu cho thấy tỷ lệ có thai tỷ lệ thuận với mật độ tinh trùng, độ di động tinh trùng. Tỷ lệ có thai thay đổi từ 0% đến 23,7% khi mật độ tinh trùng trước lọc rửa dao động từ 10 triệu/ml đến > 40 triệu/ml, không có trường hợp nào có thai khi tỷ lệ tinh trùng di động < 30% và mật độ tinh trùng trước lọc rửa< 20 triệu/ml. Tỷ lệ có thai cao khi tỷ lệ tinh trùng di động ≥ 50% (22,6%) và mật độ tinh trùng trước lọc rửa >40 triệu (23,7%).
Cũng theo Bs Lê Hoàng, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả có thai của phương pháp IUI trong đó yếu tố ảnh hưởng không kém phần quan trọng dến sự thành công của IUI là chất lượng tinh trùng sau lọc rửa. Nhiều tác giả trên thế giới đã tiên lượng thành công của IUI dựa vào chất lượng tinh trùng sau lọc rửa. Theo một số nghiên cứu, ngưỡng số lượng tinh trùng di động sau lọc rửa tối thiểu được đề nghị khi thực hiện IUI dao động từ 0,8 triệu đến 20 triệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ có thai tăng 16 lần khi số lượng tinh trùng > 5 triệu/ml (OR= 15,7; 95%CI: 2,12-116,15). Kết quả này cho thấy số lượng tinh trùng di động sau lọc rửa cao thì xác suất có thai cao.
Chúng ta biết rằng, một trong những chỉ định phổ biến nhất của thụ tinh nhân tạo (IUI) là vô sinh do chồng nhược tinh thể nhẹ. Tỷ lệ vô sinh do nam giới chiếm gần một nửa nguyên nhân vô sinh, và cứ 20 người đàn ông thì có một người bị vô sinh. Do vậy, hiểu biết về yếu tố vô sinh nam ảnh hưởng đến kết quả thành công của IUI như thế nào sẽ góp phần không nhỏ cải thiện hiệu quả của kỹ thuật này. Để tiên lượng khả năng sinh sản của nam giới, tinh dịch đồ là một trong những xét nghiệm đầu tay. Hiện nay, các tiêu chuẩn để đánh giá tinh dịch đồ thường dựa vào các giá trị tham khảo của WHO 2010. Các giá trị này bao gồm mật độ tinh trùng, tổng số tinh trùng trong tinh dịch, số lượng tinh trùng di động…Các chỉ số này tiên lượng kết quả thành công một chu kỳ IUI như thế nào vẫn là vấn đề nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Anh Huy